Truyện cổ tích Sự tích trầu cau và vôi

Ngày xửa ngày xưa, ở nhà nọ có hai anh em ruột, người anh tên là Tân, còn người em tên là Lang. Đặc biệt nhất chính là Tân và Lang có khuôn mặt và dáng người giống hệt nhau, đến cả người nhà của họ cũng không ít lần nhầm lẫn họ với nhau. Cha của họ là người cao và to nhất ở trong vùng này, ông đã được vua Hùng cho triệu kiến về Phong Châu để ban thưởng, cũng đặt tên cho là Cao. Kể từ ngày đó trở đi thì mọi người trong gia đình bắt đầu lấy tiếng “Cao” trở thành tên họ cho mình.

Khi hai anh em họ vừa lớn lên thì cả cha lẫn mẹ đều nối tiếp nhau mà qua đời. Vì vậy nên cả người anh lẫn người em đều hết sức quyến luyến nhau, cũng không chịu rời nhau lấy nửa bước. Trước lúc người cha qua đời thì có đem Tân gửi gắm cho người đạo sĩ trong làng họ Lưu.

Tuy nhiên, lúc Tân tới để theo học, Lang chẳng chịu được việc phải ở nhà một mình nên cũng cố cầu xin vị đạo sĩ họ Lưu kia cho phép mình được học cùng với anh trai. Ở nhà của họ Lưu ấy có cô con gái đồng lứa với hai người họ.

Cô gái họ Lưu này muốn tìm hiểu xem trong hai người thì người nào mới là anh, còn người nào là em. Một ngày nọ, cô mới nghĩ ra được mẹo nhỏ để thử. Đúng lúc cả hai anh em đều đang đói thì nàng mới đem dọn đồ ăn ra, nhưng mà nàng chỉ đem ra có duy nhất một bát cháo cùng với một đôi đũa mà thôi. Sau đó nàng đứng nấp ở ngay sau khe vách, và nàng cũng rõ ràng nhìn thấy được người nhường bát cháo kia cho người còn lại. Nàng thì thầm:

– À, hóa ra người anh chính là anh chàng vui tính kia!

Cũng kể từ khi đó thì Tân cùng với cô gái họ Lưu ấy có thêm rất nhiều những buổi gặp gỡ khác. Lâu dần giữa họ nảy sinh tình cảm, và tình yêu cứ càng ngày lại càng khăng khít hơn.

Thấy vậy thì vị đạo sĩ họ Lưu cũng vui lòng mà đem gả con gái mình cho Tân. Về sau thì cả hai vợ chồng dọn đến ở một căn nhà mới, tất nhiên là có cả Lang cùng sống chung.

Kể từ ngày có vợ, tuy rằng Tân vẫn như trước chiều chuộng e trai, nhưng mà lại chẳng âu yếm nữa. Ngày trước thì Lang thường nhận được sự quan tâm, chăm sóc tỉ mỉ của anh trai, nhưng giờ thì chàng lại phải chịu rất nhiều ngày chìm trong sự cô đơn, lẻ loi. Hơn nữa, Lang cũng dần nhận ra rằng có nhiều lúc Tân dường như muốn lánh mình, vì vậy trong lòng chàng lại tràn đầy nỗi buồn bực, chán nản:

– Cũng phải thôi, anh ấy bây giờ chỉ mê vợ mà quên mất ta rồi!

Vào một ngày nọ, Tân cùng với Lang đi lên nương làm việc đến tận khi trời đã tối mịt thì hai anh em mới trở về. Lang về đến nhà trước. Khi chàng vừa đưa chân đặt lên trên ngưỡng cửa, bỗng nhiên vợ của Tân đang ở trong buồng chạy vụt ra, chẳng nói chẳng rằng mà ôm chầm lấy Lang. Chàng giật mình kêu lên. Sự nhầm lẫn này của chị dâu khiến cho cả hai cùng cảm thấy ngượng nghịu và xấu hổ vô cùng. Đúng lúc ấy thì Tân lại bước vào trong nhà.

Và cũng kể từ lúc ấy thì Lang biết thêm được một tính tình rất mới của anh trai. Tân ghen với em trai mình. Cái ghen này lại càng làm cho sự hờ hững của Tân với chàng càng thêm nhiều. Thấy vậy thì Lang cảm thấy vừa giận lại vừa thẹn. Lúc này thì chàng chỉ muốn được bỏ nhà đi chõ bõ cái ghét của mình.

Vào một hôm, khi trời chỉ mới vừa mờ sáng thì Lang đã quyết định phải khởi hành đi xa. Chàng men theo con đường mòn mà đi mãi, giờ đây trong lòng của chàng tràn đầy nỗi bực bội, cùng sự oán trách người anh trai vốn trước đây vô cùng thương yêu mình lại có thể thay đổi nhiều đến thế.

Chàng cứ thế đi liền mấy ngày đường. Chàng đi mãi, đi mãi và dừng chân ở bên bờ của một con sông rất lớn. Nước sông chảy rất xiết, khiến chàng cảm thấy có chút ngại ngùng.

Ở chung quanh đây cũng chẳng thể nào nghe được tiếng chó sủa hay gà gáy nào. Tuy nhiên thì Lang nhất định không muốn trở lại nhà. Tủi thân, chàng ngồi gục ngay cạnh bờ mà khóc. Rồi chàng cứ khóc mãi như vậy, khóc đến mức mà những chú chim bay đi kiếm ăn khuya mà vẫn có thể nghe được tiếng khóc nức nở của chàng. Đến sáng ngày hôm sau thì chàng Lang của chúng ta đã là cái xác vô hồn. Và chàng đã hóa thành đá.

Còn về phần Tân, chàng ở nhà không thấy em đâu thì lúc đầu cũng chẳng chú ý mấy. Nhưng mãi sau vẫn chẳng thấy em mình trở về, đến lúc này chàng mới vội vàng tìm đến mấy nhà quen biết, nhưng mà cũng chẳng tìm thấy bóng dáng Lang đâu cả. Tân cũng biết rõ em trai bỏ đi là vì giận dỗi với mình, lúc này cảm thấy hối hận vô cùng.

Đến hôm sau vẫn chẳng thấy Lang về, Tân hốt hoảng lắm, đành phải bỏ vợ ở nhà một mình cất bước để đi tìm em. Mấy ngày đường ròng rã, Tân tới được bờ của con sông lớn.

Tìm mãi nhưng cũng chẳng tìm được cách nào để có thể qua được con sông này, Tân đành phải đi men theo bờ sông, sau cùng thì nhìn thấy em trai mình đã hóa đá tự bao giờ. Tân đứng lặng người ở bên hòn đá ấy, chàng bật khóc, khóc cho đến khi khắp không gian chỉ còn lại có tiếng dòng nước đang chảy cuồn cuộn ở dưới sông mà thôi. Và Tân chết đi, chàng biến thành một cái cây có thân thẳng đứng lên trên trời, mọc ngay cạnh bên hòn đá kia.

Vợ của Tân ở nhà chờ đợi mãi mà chẳng thấy chồng mình về, nàng sốt ruột lắm, sau không đợi được nữa nên cũng bỏ nhà mà đi tìm chồng. Nhưng sau cùng thì bước chân nàng cũng bị con sông lớn ngăn cản. Sau đó thì nàng ngồi cạnh cái cây cao rồi khóc đến cạn hết nước mắt. Nàng chết đi hóa thành loại cây dây và quấn quanh thân cây cao lớn kia.

Chờ mãi mà chả thấy người nào trở về, vợ chồng vị đạo sĩ họ Lưu liền đi nhờ tất cả mọi người ở trong làng cùng nhau chia đường tìm kiếm. Đến nơi hòn đá cùng với hai loại cây lạ thì mọi người cũng chỉ còn biết bảo nhau lập miếu để thờ cả ba người ở ngay bên ven sông. Tất cả nhân dân xung quanh vùng ấy đều gọi miếu đó là “Anh em thuận hòa, vợ chồng nghĩa tiết”.

Sau này, có một năm trời hạn hán dữ dội. Tất cả cỏ cây, hoa lá trong vùng đều khô héo hết. Nhưng riêng hai loại cây mọc ở bên cạnh hòn đá ngay trước miếu thì vẫn xanh tươi mơn mởn. Tất cả mọi người đều cho đó là một điều linh dị.

Có hôm vua Hùng ngự giá ngang qua vùng đó. Lúc đi qua miếu thì vua khá ngạc nhiên vì nhìn thấy có cảnh lạ và cây lạ. Vua hỏi:

– Miếu nơi này là thờ thần nào? Còn mấy loại cây lạ này cũng là lần đầu ta trông thấy?

Lạc tướng thấy vua hỏi thì liền gọi tới mấy cụ già ở trong vùng đến để trả lời. Khi nghe mấy cụ già kể lại câu chuyện xưa, càng nghe thì vua Hùng lại càng cảm thấy cảm động.

Nhà vua liền vạch lá để trèo lên trên cao, nhìn ngắm quang cảnh chung quanh. Sau đó thì vua hạ lệnh cho một cận vệ trèo lên trên cây để hái quả xuống cho mình nếm thử. Vua ăn quả thấy có vị chát, nhưng cũng chẳng có gì là lạ cả. Tuy nhiên, khi nhà vua nhai quả ấy cùng lá của cây dây leo kia thì lại thấy có vị gì là lạ ở nơi đầu lưỡi. Cái vị này nó vừa thơm cay lại vừa ngon ngọt.

Đột nhiên có viên quan hầu bên cạnh hét lớn:

– Trời ơi là trời! Có máu!

Tất cả mọi người đều đứng giãn ra, vẻ mặt vô cùng kinh ngạc. Hóa ra là mấy thứ bã khi nhai quả cùng với lá của hai loại cây kia, một khi nhổ xuống đá thì đổi màu đỏ ối như là máu vậy.

Nhà vua lập tức sai người lấy ba thứ đó nhai lẫn cùng với nhau, và đột nhiên thấy cả người như nóng hừng hực, cảm giác như là có ít hơi men trong người, môi thì đỏ tươi, còn sắc mặt thì rất hồng hào. Vua liền bảo:

– Đúng là linh dị mà! Chính là bọn họ! Tình thương yêu của họ vô cùng nồng nàn và thắm đỏ.

Kể từ đó trở đi thì vua Hùng liền ra lệnh tất cả mọi nơi cùng nhau gây giống và trồng thật nhiều hai loại cây kia. Điều đặc biệt nhất chính là trong luật, nhà vua đã yêu cầu trai gái, khi kết hôn cùng với nhau thì bắt buộc phải tìm đủ ba thứ: trầu, cau cùng với vôi, để cho tất cả mọi người cùng nhai và nhổ một ít để ghi dấu tình yêu chẳng bao giờ bị phai nhạt.

Và cũng kể từ đó mà dân Việt ta mới hình thành tục ăn trầu.
Chi tiết

Truyện cổ tích Sự tích ông bình vôi

Gửi đến bạn đọc Truyện cổ tích Sự tích ông bình vôi

Ngày xưa, có một người con gái con một nhà giàu có. Cô rất đẹp nhưng cũng rất kiêu. Cô đã từng làm cho các bạn gái xa lánh mình. Cô làm cho các chàng trai ghét cô vô hạn. Cũng vì thế đến tuổi lấy chồng, cô gái vẫn chưa có đám nào vừa ý. Chàng trai nào cũng bị cô sổ toẹt, vì cao chê ngỏng, thấp chê lùn, lớn chê béo trục béo tròn, gầy chê xương sống xương sườn bày ra.

Nhưng rồi cô cũng lấy được chồng. Chồng cô yêu vợ nhưng lại bực mình vì thói ghen của vợ. Cô ghen chồng làm cho xóm giềng luôn cau mặt vì những lời qua tiếng lại của họ. Cuối cùng hai người không vừa ý nhau và ly dị. Buồn bực vì duyên phận, cô bỏ đi tu.

Cô xuất gia ở một ngôi chùa cổ trên núi suốt hai mươi năm. Những con chim, con thú rừng hầu như quen thuộc bóng dáng của người sư nữ. Hai mươi năm qua, cô vẫn chưa đắc đạo. Cô thắc mắc, vì tự cho mình thông kinh kệ hơn người và chịu đủ mọi sự khổ hạnh của nhà chiền. Một ngày kia cô quyết định sang Tây trúc một phen để tìm cho ra lẽ. Đường sang Tây-trúc thiên nguy vạn hiểm nhưng cô quyết định đi cho bằng được.

Một hôm, sau khi vượt qua một trái núi, sư nữ tìm vào một ngôi nhà hẻo lánh dọc đường để nghỉ chân. Hai mẹ con chủ nhân tuy người rừng núi quê mùa nhưng vốn là kẻ ăn chay niệm Phật, nên thấy khách là nhà tu hành thì tiếp đãi rất hậu. Khi được nghe kể công trình tu luyện của sư nữ họ càng cung kính, coi như bậc thầy. Và khi biết rõ ý định của sư nữ thì họ cũng xin phép bỏ nhà bỏ cửa đi theo thầy để mong được đắc dạo. Nghe họ câu khẩn, sư nữ cười: – Hai mẹ con nhà này cũng muốn thành Phật ư? Được, cứ đi theo ta!. Nhưng bụng nàng bảo dạ: – “Chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre”.

Từ hôm đó nhà sư có thêm hai người bạn đồng hành. Chân bớt mỏi, đường bớt dài, họ đi chả mấy chốc đã tới đất Thánh. Từ trước đến sau, hai mẹ con nhà nọ vẫn cung kính, coi sư nữ như thầy. Còn sư nữ đối với họ không được như trước: – Không biết chừng họ được thành Phật trước ta. Họ sẽ hơn ta… Bọn này mà đắc đạo, thật là một điều nhục cho Thiền môn.

Nói chuyện đức Phật khi vừa nghe tin có người tìm đường đến Tây-trúc cầu đạo, vội hóa thân đi theo dõi. Từ đầu đến cuối, đức Phật vẫn không bỏ sót một lời nói, một cử chỉ nào của sư nữ. Khi họ sắp qua một con sông rộng, đức Phật hóa phép hiện ra ở bên kia bờ một tòa cổ tự, trước cửa có một cây bồ đề rất lớn, để chờ họ.

Muốn cho hai mẹ con khỏi lẽo đẽo theo mình đến đất Thánh, nên khi qua sông sư nữ giả cách ngạc nhiên, chỉ ngôi chùa và ngôi đền mà bảo rằng:

– Kìa, chúng ta đã tới Tây trúc. Chóng thật! Chính là cây bồ đề của đức Thế Tôn tu luyện ngày xưa. Thôi! Hai mẹ con cứ việc trèo lên một cành cao niệm kinh rồi buông tay rơi xuống là tức khắc thành Phật!.

Tin tưởng ở lời nói của bậc thầy, hai mẹ con mừng rỡ làm theo không chút ngần ngại. Nhưng khi họ buông tay cho người rơi xuống thì đức Phật đã đón họ đưa lên trời. Có bốn vị La hán mang tòa sen đến rước đi. Tay hai mẹ con vẫy vẫy như có ý gọi người bạn đồng hành.

– “Đúng là họ thành Phật rồi!. Sư nữ vừa kinh ngạc vừa mừng, vội trèo lên cây để làm như họ và để mong được như họ. Nhưng đức Phật đã có ý trừng phạt người đàn bà kiêu ngạo và độc ác ấy một cách đích đáng, nên đã để cho cái xác rơi phịch xuống đất, tan xương vỡ sọ. Và sau đó đức Phật lại bắt con người khốn nạn ấy hóa thành bình vôi. Tại sao lại cho hóa thành bình vôi? Có người bảo chính là đức Phật muốn bắt những kẻ trong lòng bất nhân, nhưng lại đeo bộ dạng từ bi, phải để cho người đời luôn luôn móc ruột.

Một truyện khác nhiều tính chất phật thoại cũng nói về sự tích ông bình vôi:

Có một anh ăn trộm từng sống bao nhiêu năm với nghề. Hắn ta không vợ con gia sản, chỉ độc có một túp lều bên cạnh đường cái. Một hôm, có cặp vợ chồng người ăn mày qua đó xin trú chân. Hắn cho họ ở lại và sau đó hắn thấy chồng bảo vợ: – “Hôm nay không xin được tí gì cả. Gần đây có một nương khoai, chờ đến tối tôi sẽ đào trộm về ăn”. Vợ can chồng: – “Thôi đi ông! Chỉ vì kiếp trước chúng ta ăn ở thất đức nên mới như thế này. Có lẽ nào phạm thêm vào cho nặng tội kiếp sau. Tôi thà chết không ăn trộm!”.

Người ăn trộm nghe chuyện bỗng dưng hối hận. Cuối cùng hắn giao tất cả nhà cửa cho hai vợ chồng người ăn mày rồi bỏ di. Hắn tìm đến một ngôi chùa trên núi cao xin hòa thượng cho cạo đầu tu hành. Người ta giao cho hắn công việc nấu ăn: một bữa phải nấu từ tinh sương và một bữa từ chiều. Phận sự của hắn là giữ lửa không được để tắt, vì một lần tắt lửa thì lại phải xuống núi xin về, cách xa hàng bao nhiêu dặm.

Từ lúc nhận việc nhà chùa, hắn tỏ ra chu đáo lạ thường, chưa có bữa nào để lửa tắt. Một sư bác trên chùa ghét chú tiểu mới, bèn chờ một hôm tiểu ta ngủ say, tưới tắt lửa nhấm ở bếp.

Gần sáng, chú tiểu dậy thấy không còn lửa, nghĩ đến phận sự, vội vã ba chân bốn cẳng vượt mấy khu rừng tìm xuống làng xin lửa. Giữa đường hắn gặp một con cọp già đòi ăn thịt. – “Tôi vui lòng để ngài xơi thịt – hắn nói – nhưng hãy cho tôi chạy xuống làng xin lửa cho nhà chùa, rồi tôi sẽ tới nộp mạng”.

Cọp bằng lòng để cho đi. Khi đưa được lửa về, hắn kể sự tình và xin phép hòa thượng cho đi nộp mình cho cọp. Đến nơi, cọp bảo: – “Tao già rồi, răng đã rụng hết mà xương của mày cứng khó nhai. Vậy mày hãy trèo lên cây kia buông mình rơi xuống cho gẫy xương, tao mới ăn được”. Hắn vâng lời cọp, nhưng khi buông tay thì đức Phật đã đón sẵn rước lên trời, độ cho thành Phật, tức là Phật Nhiên Đăng.

Vị sư bác kia thấy chú tiểu chỉ bằng vài hành động đơn giản mà được  thành chính quả thì cũng muốn được như thế. Hắn bèn xin phép hòa thượng cho mình ra đương việc nấu ăn và giữ lửa. Thế rồi một hôm hắn cũng giả tảng để cho lửa tắt, rồi cũng chạy xuống núi xin lửa. Và hắn cũng gặp cọp, cũng khất cọp xin đưa lửa về cho nhà chùa dùng rồi sau đó sẽ xin nộp mình. Nhưng đức Phật vốn hiểu rõ những việc làm của hắn xuất phát từ tấm lòng không thực, nên khi hắn trèo lên cây và buông tay, thì Phật lập tức bắt hắn hoá thành bình vôi.

Một dị bản của truyện trên cũng là một phật thoại, là Sự tích cái ống nhổ.

Ở đây cũng có hai nhân vật chính là chú tiểu và sư bác. Chú tiểu mới đi tu nhưng rất chăm chỉ, biết lo lắng làm tròn chức trách. Thấy lửa ở đống nhấm tắt (kỳ thực là do sư bác ghen tỵ phun nước cho tắt), tiểu không nề hiểm nguy chạy xuống núi vào lúc mờ sáng để có lửa về kịp nấu ăn cho nhà chùa. Phật hiện ra với trạng mạo một ông già khuyên can chú tiểu đừng đi, nhưng thấy chú cương quyết đi, bèn bảo chú trèo lên cây buông tay xuống, sẽ có kẻ đưa đi an toàn. Quả nhiên chú tiểu buông tay rơi đúng trên lưng một con muông; nó đưa chú xuống làng, rồi sau khi xin được lửa lại đưa về vô sự.

Sư bác vốn không phải là chân tu, nhưng thấy chú tiểu gặp Phật, cũng muốn được như vậy, bèn cũng xin ra làm công việc nấu ăn và giữ lửa, sau đó hắn đã để tắt lửa và cũng được gặp Phật. Nhưng khi buông tay thì Phật đã bắt hắn hoá thành cái ống nhổ, miệng luôn luôn há ra cho người ta khạc nhổ vào, để tỏ lòng khinh bỉ.

Chúc bạn vui vẻ
Chi tiết

Truyện ngụ ngôn Bài học đầu tiên của Gấu con

Ngày chủ nhật Gấu con xin phép mẹ ra đường chơi cùng các bạn. Gấu mẹ dặn:

– Con chơi ngoan nhé. Nếu làm sai điều gì, con phải xin lỗi. Được ai giúp đỡ thì con phải cảm ơn.

Gấu con tung tăng chạy nhảy và mải lắng nghe chim Sơn Ca hót nên va phải bạn Sóc khiến giỏ nấm văng tung toé ra đất. Gấu con vội vàng khoanh tay và lễ phép nói:

– Cảm ơn bạn Sóc!

Nói xong Gấu con cúi xuống nhặt nấm bỏ vào giỏ giúp Sóc. Sóc ngạc nhiên nói:

– Sao Gấu con lại cảm ơn, phải nói xin lỗi chứ!

Mải nhìn Khỉ mẹ ngồi chải lông cho Khỉ con nên Gấu con bị trượt chân, rơi xuống hố sâu. Gấu con sợ quá kêu thất thanh:

– Cứu tôi với! Ai cứu tôi !!!

Bác Voi ở đâu đi tới liền đưa vòi xuống hố và nhấc bổng Gấu con lên mặt đất. Gấu con luôn miệng:

– Cháu xin lỗi bác Voi, Cháu xin lỗi bác Voi!

Bác Voi cũng rất ngạc nhiên liền nói:

– Sao Gấu con lại xin lỗi, phải nói cảm ơn chứ!

Về nhà, Gấu con kể lại chuyện cho mẹ nghe. Gấu mẹ ôn tồn giảng giải:

– Con nói như vậy là sai rồi. Khi làm đổ nấm của bạn Sóc, con phải xin lỗi. Còn khi bác Voi cứu con ra khỏi hố sâu, con phải cảm ơn.

– Con nhớ rồi ạ! – Gấu con vui vẻ nói.
Chi tiết

Truyện dân gian Đám cưới chuột

Đây là một chú chuột nhắt. Một chú Chuột Nhắt còn trẻ. Tuy vậy, cứ thực sự thì diện mạo của chú cũng chẳng có vẻ mĩ miều gì mấy. Đó là tôi còn nể Chuột Nhắt mà giới thiệu với bạn đọc thế, chứ thẳng thừng ra nhiều họ Chuột khác thường thốt ra những giọng có ý khinh bỉ cười cợt Chuột Nhắt lắm.

– Nó bẩn như cú
– Ở cổ nó có ba cái sẹo to.
– Thằng cha thưa râu ghê! Mà cái râu nào cũng gãy nửa, tại sao nhỉ?
– Đuôi nó chỉ cụt một mẩu!
– Thưa ngài, tính thằng cha Chuột Nhắt gian. Cứ trông cái mắt lấm lét của nó thì đủ hiểu.
– Lại còn phải nói!
– Đấy con ơi! Thiên hạ người ta phẩm bình thế đấy, ra đường đừng có chơi bời gì với Chuột Nhắt. Thấy nó đâu thì tránh xa ra nhé.

Nhưng mồm miệng thiên hạ dông dài, thì chẳng đủ tin. Bởi vì, trong đời, có những cái miệng xấu, miệng tốt, miệng nói hay, miệng nói dở. Nhiều thứ miệng lắm và tạp nham lắm. Đừng ai vội ghét Chuột Nhắt. Đừng ai nói xấu thêm cho chú ta. Mà cũng đừng bà chuột mẹ nào cấm con cái chơi với Chuột Nhắt vội. Phải xét tận nơi, nhìn tận mặt mới nên buông lời. Một lời vô ý, trong lúc vui miệng bông lơn, có khi làm hại cho kẻ khác nhiều, lời nói đọi máu mà. Bởi vậy, chẳng nên hấp tấp mà bỉ mặt chú Chuột Nhắt, theo những lời chê bai trên kia. Vậy thì chú Chuột Nhắt có xấu người, xấu nết như lời đồn đại chăng?

Cứ sự thực, dưới mắt hàng xóm, và dưới cả mắt tôi nữa, mặt mũi chú ta cũng không đáng diện với ai mấy. Cái thân mình chú dài không được bằng một ngón tay. Bốn chân như bốn cái tăm lũn cũn. Chiếc mõm nhọn hoắt, hai hàng râu cứng tủa sang hai bên. Đôi mắt chú nhỏ, nhưng lồi ra. Hấp háy, chớp chớp, nháy lia nháy lịa. Bởi vậy, người ta đổ cho chú có tính gian. Nhưng thực oan uổng cho Chuột Nhắt. Chú không có những cái tật xấu bị gán vu vơ. Chú vốn xấu mã, thì thiên hạ lại cho luôn là chú xấu cả nết nữa. Bậy quá! Chú cũng không xấu nết. Bởi vì chú đương là một anh học trò. Một học trò thì không bao giờ được có một vết xấu. Chú Chuột Nhắt cũng biết ăn lời thầy học. Có thể nói rằng: chú là một học trò tốt. Từ khi mới lọt lòng, Thử ông và Thử bà chỉ để Chuột Nhắt ở nhà có ít lâu, rồi ông bà gửi chú đi trọ học ở miền xa, cách nhà những vài ba cánh đồng lớn.

Quả cau nho nhỏ
Cái vỏ vân vân
Nay anh học gần,
Mai anh học xa

Chuột Nhắt chịu khó học hành lắm. Âu cũng là một tính chăm học tự nhiên. Bởi vì bé thì bao giờ cũng phải học, việc học cần như Chuột cần phải ăn thóc vậy. Chuột Nhắt ta đã ăn và học ngay tại nhà thầy đồ. Hết lớp nọ lên lớp kia. Chú cố công dùi mài. Bởi vì chỉ còn ngót một năm nữa thì chú đã phải đi thi. Ở quê nhà, vợ chồng ông Thử khấp khởi mừng thầm.

Quả cau nho nhỏ
Cái vỏ vân vân
Nay anh học gần,
Mai anh học xa
Tiền gạo thì của mẹ cha…

Tiền gạo thì của mẹ cha tải đi cho con ăn, con học. Bao nhiêu là công lao! Chuột Nhắt nhấm một hạt thóc, nhớ đến nỗi khó nhọc của bố mẹ cần cù chạy kiếm từng hạt thóc vàng rụng trong mùa đông cóng lạnh, chú càng chăm chỉ sách đèn. Thấm thoát chẳng bao lâu đã tới khoa thi ấy. Hơn ba trăm học trò của các tỉnh trong xứ về thi. Hơn ba trăm sĩ tử trải qua một vòng loại, giẫm vỏ chuối mất quá nửa, cũng là học tài thi phận. Tới ngày yết bảng, thế mà tên chú Chuột Nhắt đứng vào hàng thứ ba. Tiếng đồn Chuột Nhắt thần động vang dậy từ cánh đồng này qua cánh đồng khác. Ai cũng trầm trồ khen ngợi. Và, chao ôi, nhiều kẻ ngày trước dè bỉu, nói xấu, bây giờ lại lật lưỡi tâng bốc, lại lấy Chuột Nhắt ra làm gương cho con cái trong nhà.

– Trông Chuột Nhắt mới nho nhã làm sao
– Chú Chuột Nhắt học giỏi, mặt mũi thật sáng sủa.
– Râu chú ấy dài, đôi mắt tinh anh, vẻ thông minh lạ.
– Thưa ngài, tính nết của chú Chuột Nhắt tốt. Cứ nhìn nét mặt hiền từ nho nhã của chú Chuột Nhắt ấy thì đủ hiểu.
– Lại còn phải nói! Lanh lợi nhất trần gian này là chú Chuột Nhắt.
– Đấy con ơi! Liệu làm sao mà bắt chước. Nên tìm những bạn tốt như Chuột Nhắt mà chơi.

Thôi thì, ai cũng khen Chuột Nhắt đủ điều. Ở quê nhà, nghe tin con thi đỗ, Thử ông và Thử bà sướng phổng lỗ mũi. Hàng xóm kéo đến hỏi thăm rộn rịp đầy hang. Bắt đầu, những người hay nịnh, đã gọi Thử ông, Thử bà là “hai cụ cố sinh ra cậu cử tân khoa”. Thử ông hếch râu, nghiêng cái tai nhọn nghe khoái lỗ nhĩ lắm. Họ tán tụng:

– Thưa hai cố, nhờ cậu cử mà làng xóm ta từ nay nên danh diện!
– Cả vùng này chứ lị! Bác thử xem vùng ta, xưa nay đã ai đi học mà đỗ cao được bằng cậu cử nhà hai cụ cố đây chưa?
– Vẻ vang lắm!
– Nên mở một bữa khao thật to!
– Bác nói sai rồi! Phải vinh quy bái tổ rồi mới khao vọng chứ. Xóm làng ta đây, từ thuở khai thiên lập địa đến nay, giờ mới được một chuyện danh tiếng lẫy lừng. Sao lại không làm cho thiên hạ rõ mặt tường tên?
– Bác bàn phải quá. Bẩm hai cụ cố, cho thiên hạ trông vào.
– Công trời bể hai cố to lắm.
Thử ông lim dim đôi mắt, gật gù:
– Phải, phải. Thế nào cũng rước vinh quy cho cậu cử nó. Nên lắm !
Bà mủm mỉm đáp:
– Phải, nên lắm.
Mọi người đồng thanh:
– Nên lắm!
– Nên lắm!
Thế là Thử ông và Thử bà quyết định lo đám rước vinh quy cậu cử Chuột Nhắt. Ông bà cho tin sang bên kia cánh đồng rằng cậu cử cứ hãy hoãn ngày về. Đợi để dân làng sang đón rước cho tỏ mặt với đời. Được tin ấy, Chuột Nhắt ta mừng hí hửng. Chú mừng và sướng chẳng khác lúc đứng nghe gọi loa xướng danh đến tên mình trúng tuyển. Nghe tin cha mẹ sẽ cho dân làng sang rước mình về, trong đầu Chuột Nhắt đã tưởng tượng ngay đến cái kiệu sơn son thếp vàng rực rỡ, mấy tay đô tuỳ xúm xít khiêng tân khoa. Chuột Nhắt ngồi bệ vệ, hai chân trước vắt xuống đùi gối hai chân sau, mắt làm vẻ nghiêm nhưng thực ra thì nhìn ngang nhìn dọc. Bên vệ lối đi, biết bao nhiêu bà con đứng xem, đứng đón. Tưng bừng quá! Chú Chuột Nhắt liền sắm sửa quần áo hòm xiểng nhong nhóng đợi ngày cha mẹ và làng xóm rước về.

Bấy giờ, có một lão mèo đương xưng hùng xưng bá ở đất này. Các lão Mèo ở nơi nào cũng thế, đi đến đâu là sinh ra lắm chuyện rắc rối đến đấy. Lí lịch gốc gác của lão Mèo ra sao không mấy ai rõ. Chỉ nghe truyền khẩu lờ mờ rằng xưa kia Mèo vốn được nuôi nấng ở trong nhà, chung đụng với bọn Chó Đen, Chó Vàng. Nhưng vì Mèo vốn tính khoảnh ác, chơi với ai cũng giở thói phản bạn nên ai cũng ghét. Đến khi tất cả xung quanh, từ người chủ nhà trở xuống cho đến thằng chó con mới mở mắt ai cũng ghét và xa lánh thì biết mình khó lòng còn ở lại trong nhà được nữa, Mèo ra đồng ở, thành Mèo hoang. Người ta hay nói Mèo già hoá Cáo là như vậy. Mèo ở nhà, tìm đến cánh đồng họ nhà Chuột. Chuột sợ Mèo, là một sự dĩ nhiên. Nhưng thường cũng có thứ Mèo lành hiền. Riêng lão Mèo này thì ác quá. Càng bắt nạt được ai, lão càng bóp cổ tợn… Ai ai cũng oán ghét. Ai cũng đem lòng thù. Mèo cũng biết, song lão thấy người ta tức, lão càng hoạnh hoẹ làm ác tợn. Có những ông đồ Chuột thâm nho đã đặt ra những câu hát châm chọc, cho trẻ hát để trêu tức lão:

Con Mèo mày trèo cây cau

Hỏi thăm chú Chuột đi đâu vắng nhà

Chú Chuột đi chợ đồng xa

Mua mắm mua muối giỗ cha cái thằng Mèo!

Mèo thường nghe tiếng hát văng vẳng trong những bờ cây khuất nẻo. Song lão không biết đích xác được ở đâu. Lão chỉ hầm hè ngồi gầm gừ suông. Khi lão Mèo hung tợn kia nghe tin vợ chồng Thử ông sắp rước vinh quy cho con trai thì lão khấp khởi mừng thầm. Lão chắc mẩm sắp được một món bổng to. Thế nào nhà Chuột chẳng phải lễ lạt đút lót hậu hĩnh. Không có thì lão sẽ phá. Lão Mèo xăm xăm đi đến cửa hang nhà Chuột. Bấy giờ trong hang, cả nhà Chuột đang ăn uống và om sòm, bàn bạc định ngày sang rước cậu cử Chuột Nhắt. Mèo ta cất giọng “meo” lên một tiếng rõ to như tiếng tù và rúc. Trong suốt hang im thin thít ngay. Rồi thì mấy cái râu, cái lỗ mũi thò ra, lại thụt vào ngay. Mèo quát:

– Có đứa nào trong nhà không?

Một tiếng run run đáp:

– Thưa có.

Thử ông mon men ra đứng nép vào khe cửa hang, nói vọng ra:

– Ngài hỏi chúng tôi có việc chi?

Mèo trừng mắt:

– Lại còn việc gì nữa? Việc gì thì cả tổ bay đã biết đấy!

– Bẩm không biết ạ!

– Không à? Ông lại phá cả nhà bây giờ. Muốn bị cắt lưỡi, phỏng?

– À, biết rồi, tôi cho cháu nó về bái tổ. Tôi bảo để đến chiều sẽ sang báo tin mừng với ngài.

– Đủ cả đấy chứ?

– Vâng, báo tin và xin biện đủ. Rước ngài cứ về, chốc nữa chúng tôi sang.

Chiều hôm ấy, nhà Chuột đem lễ vật thịnh soạn sang dâng ông Mèo. Có thế ông mới để cho đám rước được yên ổn. Đám đi dâng lễ ông Mèo cũng trịnh trọng như một đám rước, có tranh vẽ để lại đời sau ai cũng biết đấy. Một anh Chuột đi đầu, thổi kèn. Một anh đeo cái trống cà rùng. Vừa bước đi, chốc chốc lại múa hai tay lên mà gõ trống nhịp nhàng. Một anh nữa xách khệ nệ hai con cá săn sắt lớn (mà người xem tranh nhầm là cá chép). Rồi mới đến một ông đứng tuổi, ria mép dài ngạnh trê, mặc áo the thâm, quần lụa điều đi sau cùng. Cái đám rước ấy vào đến hang Mèo thì lão này đương khề khà uống rượu. Lão nhận hai con cá săn sắt và nhắm luôn. Lũ Chuột cúi rạp, cúp cả tai xuống mà lạy tạ rồi lui ra ngay. Ra tới cửa, anh nào anh nấy ba chân bốn cẳng chạy mau như sợ lão Mèo đuổi theo, chộp lấy, chén thịt. Thế là xong việc dâng đồ lễ ông Mèo. Một ngày tốt lành kia, cả tổng Chuột nhộn lên vì sự tấp nập đi rước cậu cử tân khoa Chuột Nhắt. Đã quá trưa thì đám rước về tới đầu cánh đồng. Trước hết, một chú Chuột mặc áo nẹp đỏ thổi loa te te. Đến hai lá cờ kì lớn, trên lá cờ nào cũng viết hai chữ “Thái Bình”. Mấy cái biển sơn son thếp vàng, vác ngổn ngang. Những chữ “Vinh Quy” vàng chói khắc lên gỗ. Lại có hai chú Chuột khiêng một chiếc trống cái. Trống nặng quá, to phè phè, mỗi khi anh Chuột đi bên cạnh múa chiếc dùi lên, nện xuống một dùi, hai chú Chuột phu khiêng lại loạng choạng hai chân chực ngã xiêu đi. Tất cả đám rước, Chuột nào cũng mặc áo the thâm, thắt lưng điều bỏ giọt, chân đi đất, mặc quần lụa nâu. Anh nào cũng chít khăn kín cái đầu dài ngoẵng, lòi đôi tai lên trên. Có anh trai kiểu chơi chua, lại đội vênh vang chiếc nón dứa mới. Trong cái mõm nhọn, chuột chúm chím nhai trầu. Chấm hết cho đám rước, một lũ chừng mười lăm phu chuột xúm xít khiêng một cái kiệu. Ở trong kiệu, chú tân khoa Chuột Nhắt ngồi chõm choẹ. Cái điệu chú oai ghê. Đầu chú đội chiếc mũ xanh, có hai cánh chuồn. Mình chú mặc áo thụng lam. Chú ngồi vắt chân chữ ngũ. Một tay cầm cái quạt tàu phe phẩy. Một tay cầm điếu thuốc lá quấn. Chốc chốc, lại đưa lên miệng, hút phập phèo. Đôi mắt chú lúng liếng liếc sang hai bên đường, ra vẻ ta đây. Mà hai bên đường thì chật ních những họ hàng nhà Chuột đứng xem.

– Te te te… Ai đi đường thì tránh ra cho quan cử vinh quy bái tổ…

– Tùng… Bi li… Bi li… Tùng…

Đám rước trịnh trọng, trang nghiêm. Mỗi bước dịch về gần trong xóm lại đi chậm thêm và làng xóm ở các hang ổ xa càng đổ đông ra xem. Đông quá. Thật lòng chú Chuột Nhắt chỉ thích được như vậy. Lát nữa, về đến đầu xóm, thể nào cũng có hương án bày bái vọng và tất nhiên là Thử ông và Thử bà đã đi võng ra đón con. Chú Chuột Nhắt thầm cảm ơn trời đã có một ngày nắng ráo và mát mẻ quá như hôm nay. Ai cũng lũ lượt kéo đi xem đám vinh quy của quan cử tân khoa. Đám rước trịnh trọng,trang nghiêm.

Qua gần hết cánh đồng. Bỗng văng vẳng có tiếng ầm ĩ từ xa đi tới. Vang như tiếng trống, tiếng cồng, tiếng sấm. Nhưng lạ tai quá:

– Meo! Meo! Meo!

Ôi chao! Tiếng lão Mèo quát. Những đám đông đứng xem, rú lên chạy tán loạn.

– Meo! Meo! Meo!

Anh vác loa cút trước nhất. Mấy thằng cầm cờ cũng quẳng cờ mà chạy. Và có mấy tên rước biển “Vinh Quy” đều ù té chuồn. Chỉ có anh đánh trống thì vẫn mải mê đánh trống thòm thòm, không ngẩng đầu lên, cũng không nghe thấy gì.

– Meo! Meo! Meo!

Đến bấy giờ bọn đánh trống mới nghe thấy những tiếng khủng khiếp rền tai. Anh nào anh nấy ba chân bốn cẳng, hoảng hốt chạy thẳng một mạch. Và cái bọn khiêng kiệu cũng không còn hồn vía nào đứng lại nữa. Những tiếng quái ác ghê gớm kia là tiếng báo hiệu Thần Chết đương đi đến đây rồi. Thần Chết đã tới sau lưng. Ai mà còn hồn vía nào! Chúng buông phịch kiệu xuống, rùng rùng đi tìm hang lỗ trú ẩn. Chiếc kiệu bị buông mạnh, lật nghiêng và đổ khuỵu. Chú Chuột Nhắt đương đắc chí rung đùi, bị ngã chổng vó, không dậy được. Tất cả đám rước linh đình, trong phút chốc tan biến, không còn bóng vía gã Chuột nào. Bấy giờ người ta mới thấy lão Mèo lù lù từ phía Tây đi đến. Lão vừa đi lừ lừ, vừa kêu: “Meo! Meo!”. Thực vô tình mà lão cất tiếng ông ổng. Và đấy là lão hát chứ không phải lão kêu, lão hò hét chửi bới. Phải, vừa uống rượu xong, vui thì lão hát chơi. Lão cũng định ra xem đám rước vinh quy, nên lão vui trong bụng lão hát lên mấy câu cho vui đấy thôi.

– Meo! Meo! Meo!

Lão hát thế thì chết! Có ai, có chú chuột nào lại hiểu được rằng “meo, meo, meo” là một điệu hát bình thường của lão Mèo. Những con chuột chỉ nghĩ rằng Mèo đương đói, đương gào thịt ăn. Đám rước mới tan tác mất. Khi lão Mèo ra tới đường cái, thấy đường cái vắng tanh, chẳng còn một bóng chuột nào. Cờ quạt ngổn ngang, lổng chổng. Lão ngạc nhiên nói một mình:

– Quái, ta có làm gì đứa nào đâu, mà chúng nó sợ?

Lão lại hát “meo, meo”. Lão không biết rằng hò bổng lên như thế mà nhà Chuột đã đủ khiếp mà chạy xa thêm. Tức mình lão bần thần bỏ đi ra chơi mát ngoài đồng. Mãi cho đến xế trưa, mới có mấy anh Chuột mon men, nhớn nhác, từ trong xóm bò ra. Rồi thì một đám nữa nối đuôi nhau đi đến. Và họ hàng lại lặng lẽ rồi rộn ràng đi làm đám rước. Ai vào việc nấy Lại loa. Lại cờ. Lại biển. Lại trống cái và trống cà rùng. Nhưng đến khi xúm vào dựng kiệu lên thì thấy cậu cử tân khoa méo mó, nhăn nhó mặt mõm, cho đến lúc ấy vẫn không thể ngồi dậy được. Bởi vì lúc cái kiệu đổ, chú sái một khớp xương chân, ngoẹo hẳn đi, không thể ngồi và đi được. Đám rước, thế là chú đành nằm trong kiệu cho khiêng về nhà. Mất vui. Chẳng ai đi xem, và giá có đi xem, cũng chẳng nhìn thấy cậu cử tân khoa đâu nữa. Cậu cử tân khoa đau quá, không ngồi được, đã nằm phủ phục xuống sàn kiệu. Cái mộng được đi diễu qua làng xóm cho thiên hạ biết mặt tân khoa chú Chuột Nhắt bị sụp vỡ. Chỉ vì mấy tiếng hát vu vơ của lão Mèo phởn chí. Thử ông và Thử bà cũng cụt mất hứng. Nhưng dẫu sao, cũng là xong cuộc rước vinh quy Chuột Nhắt. Thử ông Thử bà dần dần cũng lấy lại hả hê, mà chẳng dám oán trách ông Mèo. Bởi oán ông thì chỉ thiệt thân mà thôi! Chỉ hận một nỗi từ ngày ấy, cái chân sai khớp của cậu Chuột Nhắt, chữa thế nào cũng không khỏi. Chuột Nhắt thành tật, một chân sau bước thậm thọt. Thử ông sợ cái tiếng con mình thọt chân, nên đút tiền cho những đứa khênh kiệu hôm vinh quy để chúng khỏi đi nói cho ai biết.

Ông bà Thử có ý muốn giấu giếm cho con mình cái tật nọ. Là vì ông bà nghĩ: Chuột Nhắt đã lớn. Học đã thành tài. Nhưng còn thiếu một chút vợ con trong nhà. Cưới vợ cho chú ấy là mãn nguyện hai vợ chồng già. Nhà con một, lại khá giả, tất nhiên đường vợ con phải kén chọn kĩ. Những cô Chuột Nhắt loàng xoàng thì không có thể đáng mặt lấy về cho chú cử Chuột này được. Ông bà Thử băn khoăn về chỗ đó. Đại đăng khoa rồi tiểu đăng khoa thì vừa. Vả lại, họ hàng bà con cũng thúc giục ông nên lấy vợ cho cậu Chuột Nhắt. Đó là những mồm miệng quanh năm chỉ hong hóng muốn ăn cỗ. Được ăn cỗ là họ thích. Họ cứ xúi khôn xui khéo ông bà Thử:

– Hai cố xem có đám nào kén về cho cậu cử!

– Có vợ con thì mới chững chạc được!

– Hai cố xem mặt cái đám xóm kia, có ưng không?

– Không được, đám ấy đăng đối sao được với nhà này! Thuở ấy, một ông viên ngoại nhà ở hang ngoài bờ sông, có cô con gái kén chồng. Cô gái treo biển kén chồng đã hơn một năm nay. Cũng đã nhiều vương tôn công tử rắp ranh bắn sẻ, nhưng chưa ai được trúng cách. Bởi vì ông viên ngoại là một tay thâm nho. Và cô tiểu thư là một thiếu nữ có đôi chút nhan sắc, xa gần nức tiếng. Đó là cô tiểu thư Chuột Chù. Tiểu thư Chuột Chù đẹp – cô tự nghĩ thế. Lại càng làm dáng tợn. Bước đi yểu điệu. Mõm to và dài. Áo cô đen xù lúc nào cũng thơm lừng mùi nước hoa. Nhưng thiên hạ độc miệng lại đặt cho câu tục ngữ ác nghiệt: Hôi như chuột chù. Thoạt gặp, cứ tưởng rằng cô tốt nết. Nhưng thực cô có một tính xấu. Tính cô khinh khỉnh. Từ khi ông viên ngoại yết bảng ra cửa, đề bài thơ rằng: “Nhà ta có gái kén chồng. Xuân xanh xấp xỉ độ chừng đôi mươi” thì hai bố con ông đã làm bẽ mặt nhiều gã chuột đến dạm hỏi lắm. Thực ra, trong đám đó cũng nhiều người vô tài. Song, cậy mình có tài mà làm xấu hổ kẻ khác thì cũng chẳng nên.

Một hôm kia, Thử ông gọi Chuột Nhắt đến mà bảo rằng:

– Con ơi! Con đã lớn. Học con đã thành danh, không kém cạnh gì ở đời. Nay cha chỉ còn mong muốn lo vợ cho con. Con bằng lòng chăng?

Chuột Nhắt thích tê người, nhưng còn làm bộ lưỡng lự:

– Cái đó tuỳ cha.

– Cha đã nghĩ kĩ. Cứ xem như quanh vùng này thì không có mặt nào đáng. Cha thấy có tiếng đồn ở bên sông có ông viên ngoại kén chồng cho con gái. Để mai cha thử sang chơi.

Chuột Nhắt cười:

– Thưa cha, con đã nói tuỳ ở ý cha mà.

Biết thế là con đã bằng lòng, hôm sau, Thử ông ăn diện tề chỉnh, diện giày gia định và cầm cả ô che nắng, đi sang nhà viên ngoại nọ. Đến chiều, ông trở về. Hơi rượu sực nức. Ông viên ngoại đã thết ông cơm rượu linh đình. Ông Thử kể chuyện cho con trai và Thử bà nghe:

– Ta nói đến con thì viên ngoại bằng lòng lắm, viên ngoại đã biết tiếng. Nhưng ông ấy muốn mời con sang chơi để ông được thử tài.

– Ngày mai con sang.

Ngày mai, Chuột Nhắt sang chơi nhà viên ngoại. Chú đi cùng với hai tiểu đồng Chuột. Đêm hôm qua, đã giở bao nhiêu pho sách để xem lại. Nhưng có điều rắc rối là chẳng hay Chuột Nhắt sẽ đi đứng thế nào. Bởi vì một chân sau của chú bị khập khiễng. Không hề chi. Chuột Nhắt sẽ cưỡi một con ngựa bạch. Quần lụa điều sẽ buông xuống lấp kín gót chân. Lúc xuống ngựa, hai tiểu đồng xách nách hai bên, ra lối kiểu cách đại công tử của những nhà phú gia. Chẳng ai có thể biết được công tử Chuột Nhắt thọt hay không thọt. Chuột Nhắt sang đến nơi, viên ngoại tiếp đón niềm nở lắm. Tiểu thư Chuột Chù nhòm trong rèm ra cũng lấy làm vừa lòng. Rồi viên ngoại ra cho Chuột Nhắt một câu đố. Đó, là cái lệ chung cho tất cả những ai ngấp nghé đến làm rể nhà ông viên ngoại đã yết bảng kén chồng, là phải giải được một câu đố. Mỗi người một câu khác nhau. Câu đố ông viên ngoại ra cho Chuột Nhắt rằng:

Mặt em phương trượng chữ điền

Da em thì trắng, áo đen mặc ngoài

Lòng em có đất có trời

Có câu nhân nghĩa, có lời hiếu trung

Dù khi quân tử có dùng

Thì em sẽ ngỏ tấm lòng cho xem.

Viên ngoại hẹn cho Chuột Nhắt phải trả lời được trong vòng ba ngày. Ba ngày thì tìm ra lời giải. Chuột Nhắt lĩnh mệnh, biên câu đố lại, rồi từ tạ viên ngoại ra về. Ngựa mới thủng thỉnh về đến nửa đường, chú Chuột Nhắt vỗ trán có mấy cái, đã nẩy ra được câu lời giải. Chú vuốt ria, vừa đi vừa tủm tỉm cười. Về nhà, chú kể chuyện cho cha mẹ nghe. Thử ông vội hỏi:

– Thế con nghĩ ra câu trả lời chưa?

– Viên ngoại vừa nói xong con đã đoán ra được.

– Đoán được là gì?

– Là cái quyển sách, chứ lại còn cái gì nữa!

Thử ông ra vẻ nghĩ ngợi và gật gù khen là đúng. Ngày hôm sau, Chuột Nhắt đóng một quyển sách thật đẹp, bìa mo sơn then, trong viết cả một đoạn tam tự kinh, cho gửi sang nhà viên ngoại. Viên ngoại kinh ngạc và phục tài công tử Chuột Nhắt quá. Vì từ xưa tới nay, ông cũng đã ra nhiều câu đố, không những là ít ai đoán đúng, nhiều chàng trai không dám vác mõm trở lại nữa. Đằng này, Chuột Nhắt đoán chưa được một ngày đã ra. Quả là thần đồng! Tiểu thư Chuột Chù cũng tấm tắc khen: Tài, tài. Hai bố con liền cho tin sang bên nhà Thử ông để mời mối lái đến. Đôi bên nhà trai nhà gái đã định ngày làm lễ hỏi.

* * *

Nhưng câu chuyện không phải ổn thoả ở chỗ ấy. Một hôm, có một khách đến chơi nhà ông viên ngoại, nói rằng muốn ngỏ một câu chuyện cần. Viên ngoại mời vào, gã Chuột lạ ấy thi lễ rồi nói rằng:

– Tôi nghe đồn viên ngoại sắp gả chồng cho quý tiểu thư?

– Phải.

– Quý tiểu thư lấy thằng chồng thọt chân đấy.

Viên ngoại trợn mắt:

– Thế nào? Ai thọt chân? Bác nói sao?

– Tôi nói rằng viên ngoại sắp gả con cho một thằng thọt chân.

– Ai thọt chân? Công tử Chuột Nhắt chăng?

– Lại còn ai nữa!

– Bác kể đầu đuôi cho ta nghe.

– Tôi cũng chẳng rõ gia cảnh nhà ấy đâu… Tôi chỉ biết có mỗi một điều là công tử Chuột Nhắt thọt một bên chân trái.

– Tại sao bác biết?

– Ngày công tử Chuột Nhắt về vinh quy, tôi đi khiêng kiệu. Kiệu đổ. Lại chính tôi cõng công tử vào hang, vì công tử què chân, không đi được nữa. Về sau chữa chạy mãi không khỏi. Thử ông bịt tiếng, cho mỗi phu kiệu một ít tiền, để khỏi đi đưa chuyện.

– Thế ông ấy có cho tiền bác không?

– Không, ông ấy bỏ sót tôi.

Viên ngoại ngẫm nghĩ:

– Làm thế nào có thể tin được lời của bác?

Chàng kia cả cười:

– Có khó gì điều ấy. Viên ngoại cho mời công tử Chuột Nhắt đi bộ sang đây rồi lại mời ra chơi vườn hoa.

– Ngộ công tử từ chối?

– Thì cứ như là viên ngoại thách đố một lần nữa. Thách công tử Chuột Nhắt phải đi bộ sang bên này. Bấy giờ viên ngoại sẽ biết lời tôi đúng hay sai.

Viên ngoại bán tín bán nghi. Ông bàn với con gái. Hai cha con luận bàn với nhau một lúc lâu. Cuối cùng, ông viên ngoại nói rằng:

– Thì ta cứ thử như lời người kia nói. Nếu mà công tử Chuột Nhắt quả thật không có tật, nếu ta mời bó buộc như thế cũng chẳng hại gì.

Rồi ông viên ngoại đưa tin sang nhà Thử ông. Rằng sáng hôm mười tư, mời công tử sang dự cỗ. Nhưng muốn theo đúng nghi lễ con cái nếp nhà, công tử nên đi bộ sang. Hai cha con viên ngoại đợi ngày mười tư xem sao. Sáng hôm ấy, có tiểu đồng Chuột bên nhà Thử ông sang thưa:

– Bẩm, cậu con bữa nay hơi ấm mình, xin viên ngoại cho kiếu lỗi.

Viên ngoại vào nói với con gái:

– Con ơi! Có lẽ lời kẻ kia nói đúng. Nhưng ta phải thử một lần nữa.

Một lần, viên ngoại lại cho gia nhân sang mời công tử Chuột Nhắt đến ăn giỗ kị. Theo lễ, công tử cũng phải đi bộ, và viên ngoại quý rể còn cho gia nhân sang đón tận nơi . Chao ôi! Thực là khổ sở cho chú Chuột Nhắt. Chú biết làm sao bây giờ. Chân chú thọt mất một bên trái. Nếu không đi ngựa, không kẻ xốc nách, chú phải bước lò cò, tập tễnh. Cứ kể, nếu bò quãng ngắn quanh quẩn trong hang, chú chuột cũng có thể gắng sức bò cho chỉnh chện được. Nhưng đằng này, phải cuốc bộ từ đây ra ven sông qua mấy cánh đồng. Tự dưng lại giở cái trò quái độc này, chắc lão viên ngoại đã nghe phong thanh ai nói thế nào rồi đấy. Mồm miệng đồn thổi gớm thật! Cái gì đã xảy ra, cái gì có thể nói được là sự thực, tất chẳng thể giấu nổi ai. Biết làm thế nào? Bắt buộc Chuột Nhắt lại phải cho tiểu đồng sang nói dối một lần nữa:

– Thưa viên ngoại, công tử bị cảm chưa được mạnh, không dám ra ngoài.

Thế là viên ngoại có thể đoán biết rõ mười mươi căn bệnh của công tử Chuột Nhắt như thế nào rồi. Hôm sau, ông viết thư sang khước hôn cho con gái. Thử ông và Thử bà giận lắm. Công tử Chuột Nhắt thì thở dài thườn thượt và chốc chốc lại ngước mắt lên nhìn trời. Thực ra Chuột Nhắt nghĩ giận vô cùng. Chú thấy thế này là đời tráo trở quá, ăn ở không có trước sau. Chú nghĩ cách báo thù. Chú cũng nhỏ nhen lạ. Bởi chú chẳng nghĩ được rằng vì cái chân thọt của chú mà người ta không gả con cho chú. Chính chú định giấu giếm trước kia mà. Chú báo thù ông viên ngoại thế nào? Học trò chân yếu tay mềm, biết làm gì nên chuyện! Nhà ông viên ngoại có nhiều thế lực, không mỗi chốc cách nào mà chú dám bắt nạt. Thế mới khó. Nuốt hận thì căm. Mà để vậy thì xấu hổ. Chú nghĩ ba ngày ba đêm mà không vỡ ra được một kế gì. Người chú gầy tọp lại. Lông tóc chú rụng nhiều quá, hói cả đỉnh đầu, Sang đến ngày thứ tư, chú đương đứng bần thần ở cửa hang bỗng reo lên. Chú đã nghĩ được một kế. Diệu lắm. Chú sẽ làm một bài hát chế ông viên ngoại. Tài học của chú để đâu mà lại không có thể làm được một bài vè thực hay! Lập tức, chú thảo luôn. Chú làm một bài. Đầu đề là bài vè chế ông viên ngoại thách cưới cho cô Chuột Chù. Làm xong, Chuột Nhắt hắng giọng kể thử. Vè rằng:

Em là con gái nhà giàu

Cha em thách cưới ra màu xinh sao

Cưới em trăm tấm gấm đào

Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời

Nắp tròn dẫn đủ trăm đôi

Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng.

Sắm xe tứ mã mang sang

Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu

Ba trăm nón nghệ đội đầu

Mỗi người một cái quạt tàu cầm xinh

Anh về sắm nhiễu Nghi Đình

May chăn cho rộng, tối mình đắp chung

Cưới em chín chĩnh mật ong

Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò

Cưới em tám vạn trâu bò

Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm

Lá đa mặt nguyệt hôm rằm

Răng nanh thằng Cuội, râu cằm ông Thiên Lôi

Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi

Xin chàng chín chục con dơi goá chồng

Thách thế mới thoả trong lòng

Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân

Khi bài vè được chú Chuột Nhắt truyền ra, tất cả cánh đồng, có bao nhiêu làng xóm Chuột thì cả bấy nhiêu đều lập tức thuộc lòng như cháo. Ai cũng kể luôn miệng, ai cũng hát vung lên. Viên ngoại biết. Rồi tiểu thư Chuột chù cũng nghe Bố con chỉ còn tức mà nguyền rủa, không làm gì được.

 * * *

Đương khi ấy, lão Mèo lại đâm bổ vào câu chuyện. Lão đến đâu, là xổ ra nguồn gốc của những rắc rối không lường được. Có lẽ đó là một lão đói ăn. Hay là một ngày mưa chi đó. Trời mưa thì nhàn rỗi. Mà nhàn rỗi, thường nghĩ vẩn vơ, rồi đâm ra nghĩ và làm bậy bạ. Dường như trong một lát thong thả lão nhớ thèm những con cá săn sắt béo ngậy mà dạo nọ Thử ông, Thử bà đem biếu vào dịp Chuột Nhắt vinh quy. Lão nghĩ đến thì lão tưởng ngay tới sự đòi hỏi. Bởi vì ở đất này, lão là chúa. Lão là chúa thì lão chẳng còn biết sợ ai! Vả lại, lão vừa nghe thoáng thoáng mấy bữa nay, có đứa nào hát hỏng một câu gì có vẻ nói như là Chuột Nhắt sắp lấy vợ. Rất có thể, lão đến nhà Thử ông mà đòi ăn uống, nhà ấy đương có việc vui mừng. Lão đi lừ đừ bốn chân, lão gườm gườm đôi con mắt. Vừa tới cửa hang Thử ông, lão hét lên mấy tiếng thật to. Thử bà vừa thò đầu ra thì lão giơ chân chộp lấy. Lão chộp trúng lưng bà lão. Bà lão co người lại, ngã chúi vào trong hang. Mèo đắc chí lại gào lên mấy tiếng. Lão đứng chờ mãi mà cũng chẳng thấy ai ra nữa. Bực mình, lão cào cào tung toé đất lên rồi ngoe nguẩy đuôi lững thững đi. Chắc lão không tưởng rằng lão vừa gây ra một tai nạn cho gia đình Chuột Nhắt. Bởi vì bà lão ngã vào trong nhà thì ở mảng sống lưng rời ra một miếng thịt đỏ hỏn vì bị móng chân của Mèo cào. Thử bà ngất đi. Cả nhà lay gọi rối rít. Nhưng vì chuột bà gầy yếu quá, và bị vuốt chân ông Mèo móc vào lưng cũng khá sâu, đau quá không tỉnh lại nữa, cứ bằn bặt thiếp… rồi tắt thở. Cả nhà khóc lóc thảm thiết.

* * *

Từ đấy Chuột Nhắt càng để tâm thù cha con cô Chuột Chù tợn. Bởi vì chú Chuột Nhắt lại cho rằng chính lão viên ngoại nọ đã sinh sự gây ra cái chết thảm của mẹ chú. Ôi, bà mẹ hiền của chú chết ai oán quá. Chú cần phải báo thù. Thù này chẳng đội trời chung. Chú Chuột Nhắt cố lo báo thù. Có lẽ chú cũng chú ý tìm thầy học võ. Nhưng tìm không thấy chú lại đặt ra nhiều bài hát châm chọc nữa để bôi xấu cha con nhà lão viên ngoại. Nhưng xỏ xiên mãi cũng chán. Bởi vì lão cũng chẳng chết. Bố con lão vẫn sống nhăn răng. Một ngày kia, Chuột Nhắt nghe người ta đồn rằng ở bên kia cánh đồng có ông Chuột Cống là một tay lão luyện giang hồ. Ông ta có nghĩa khí, có chí làm việc lớn. Ông lại võ nghệ cao cường. Ông giao du với nhiều bè bạn bốn phương thiên hạ. Chuột Nhắt lần mò đến hang Chuột Cống xin vào yết kiến. Chuột Nhắt kể lể việc đau đớn nhà mình cho Chuột Cống nghe, rồi nghiến răng mà nói:

– Thưa ông, tôi thâm thù lão viên ngoại. Giá tôi có thể chết mà giết được lão, tôi cũng xin chết.

Chuột Cống ha hả, vỗ lên đầu Chuột Nhắt mà rằng:

– Khá khen cho anh. Anh còn trẻ mà có chí có gan, giỏi lắm. Nhưng tiếc thay, anh đã đem dùng nhầm cái tài của mình.

Chuột Nhắt hỏi lại:

– Ông bảo tôi phải làm thế nào mới đúng?

– Đầu tiên, anh vinh quy ỏm tỏi, đó là một sự huyênh hoang vô ích. Về sau, anh lại hí hửng muốn lấy vợ. Chao ôi! Làm như ở trên đời này, một thanh niên chưa có vợ, chẳng thể sống được hay sao? Phải lập thân trước đã chứ! Anh nên quên cái lão viên ngoại tráo trở, cái cô Chuột Chù đỏng đảnh kia đi. Đừng bao giờ nghĩ rằng họ đã làm hại nhà anh. Đã nghĩ thì phải suy lên tận ngọn. Anh phải tự hỏi anh rằng bởi đâu mà chân anh thọt, bởi đâu mà mẹ anh chết. Bởi đâu mà họ nhà Thử chúng ta phải khổ sở đến thế này? Chỉ bởi tại thằng Mèo. Phải đánh đổ cho kì được thằng Mèo. Nếu nó chết chúng ta sẽ được sống yên lành trong hang, ngoài bờ cỏ, ngoài ruộng lúa. Chính tôi đương cổ động tất cả hãy hoạt động để phá cho bằng được cái lâu đài của thằng Mèo độc ác ấy đi.

Chuột Nhắt reo lên như hét:

– Tôi xin theo ông. Tôi sẽ đi nói cho tất cả xung quanh tôi ai cũng biết những điều to lớn ông đã bảo tôi.

– Bạn ơi! Thế là bạn đã giác ngộ rồi đó!

Từ đấy, gã Chuột Nhắt đã có một lý tưởng để theo. Gã Chuột Nhắt đã có một nghĩa vụ để làm. Từ đấy chúng ta thường thấy gã nhanh nhẹn trong mọi công việc của gã, dù gã vẫn mang cái chân bệnh tật. Và gã vẫn chưa có vợ. Mà gã cũng chẳng nghĩ đến những điều ấy nữa. Lập thân trước đã chứ!

Về sau, cô tiểu thư Chuột Chù kia cũng héo hắt đi rồi chết già, chẳng ai buồn lấy, chẳng ai rước đi cho. Là vì cô đỏng đảnh, khinh người, làm bộ quá. Làm bộ mãi thì đời làm bộ trả. Ở đời, kiêu kì bắc bậc, chỉ tổ làm cho ai nấy sinh ghét.
Chi tiết

Truyện cổ tích Cây tre trăm đốt

Một câu chuyện rất là hay gửi bạn đọc

Ngày xưa, có một ông già nhà quê có một cô gái đẹp. Trong nhà phải thuê một đầy tớ trai, ông ta muốn lợi dụng nó làm việc khỏi trả tiền, mới bảo nó rằng: “Mày chịu khó làm ăn với tao rồi tao gả con gái cho”. Người ở mừng lắm, ra sức làm lụng tới khuya không nề hà mệt nhọc. Nó giúp việc được ba năm, nhà ông ta mỗi ngày một giàu có.

Ông nhà giàu không còn nghĩ đến lời hứa cũ nữa, đem con gái gả cho con một nhà phú hộ khác ở trong làng.

Sáng hôm sắp đưa dâu, ông chủ gọi đứa ở lên lừa nó một lần nữa, bảo rằng: “Bây giờ mày lên rừng tìm cho ra một cây tre có trăm đốt đem về đây làm đũa ăn cưới, thì tao cho mày lấy con gái tao ngay”.

Đứa ở tưởng thật, vác dao đi rừng. Nó kiếm khắp nơi, hết rừng này qua rừng nọ, không tìm đâu thấy có cây tre đủ trăm đốt. Buồn khổ quá, nó ngồi một chỗ ôm mặt khóc. Bỗng thấy có một ông lão râu tóc bạc phơ, tay cầm gậy trúc hiện ra bảo nó: “Tại sao con khóc, hãy nói ta nghe, ta sẽ giúp cho”. Nó bèn đem đầu đuôi câu chuyện ông phú hộ hứa gả con gái cho mà kể lại. Ông lão nghe xong, mới bảo rằng: “Con đi chặt đếm đủ trăm cái đốt tre rồi đem lại đây ta bảo”.

Nó làm theo y lời dặn, ông dạy nó đọc: “Khắc nhập, khắc nhập” (vào ngay, vào ngay) đủ ba lần, thì một trăm khúc tre tự nhiên dính lại với nhau thành một cây trẻ đủ một trăm đốt. Nó mừng quá, định vác về, nhưng cây tre dài quá, vướng không đi được. Ông lão bảo nó đọc: “Khắc xuất, khắc xuất” (ra ngay, ra ngay) đúng ba lần thì cây tre trăm đốt lại rời ra ngay từng khúc.

Nó bèn bó cả lại mà gánh về nhà. Đến nơi thấy hai họ đang ăn uống vui vẻ, sắp đến lúc rước dâu, nó mới hay là ông chủ đã lừa nó đem gả con gái cho người ta rồi. Nó không nói gì, đợi lúc nhà trai đốt pháo cưới, bèn đem một trăm khúc tre xếp dài dưới đất, rồi lẩm bẩm đọc: “Khắc nhập, khắc nhập” cho liền lại thành một cây tre trăm đốt, đoạn gọi ông chủ đến bảo là đã tìm ra được, và đòi gả con gái cho nó. Ông chủ lấy làm lạ cầm cây tre lên xem, nó đọc luôn: “Khắc nhập, khắc nhập”, thì ông ta bị dính liền ngay vào cây tre, không làm sao gỡ ra được. Ông thông gia thấy vậy chạy đến, định gỡ cho, nó lại đọc luôn: “Khắc nhập, khắc nhập”, thì cả ông cũng bị dính theo luôn, không lôi ra được nữa.

Hai họ thấy thế không còn ai dám lại gần nó nữa. Còn hai ông kia không còn biết làm thế nào đành van lạy xin nó thả ra cho. Ông chủ hứa gả con gái cho nó, ông thông gia xin về nhà ngay, nó để cho cả hai thề một hồi rồi nó mới đọc: “Khắc xuất, khắc xuất” thì hai ông rời ngay cây tre, và cây tre cũng rời ra trăm khúc.

Mọi người đều lấy làm khiếp phục đứa ở, ông chủ vội gả con gái cho nó, và từ đó không còn dám khinh thường nó nữa.

Chúc bạn đọc vui vẻ
Chi tiết

Truyện dân gian Nàng tiên cóc

Mình xin gửi đến bạn đọc một câu truyện dân gian rất là hay

Ngày xưa, có hai vợ chồng nông dân hiếm hoi, cầu Trời khấn Phật mãi người vợ mới có thai, nhưng đến khi sinh ra, không phải là người mà lại là một con cóc.

Con cóc lớn lên, biết nói tiếng người, song hình thù sần sùi, xấu xí, khiến cha mẹ nó lấy làm buồn phiền, thường than thở với nhau: “Vợ chồng mình già cả, hiếm hoi, tưởng sinh được mụn con nối dòng, trông nom đỡ đần mình, ngờ đâu oan gia nghiệp báo lại sinh ra cóc, còn trông mong gì nữa”!

Cóc nghe thấy thế, khuyên cha mẹ đừng lo. Rồi ngay hôm sau cóc nhảy đi coi ruộng cho cha mẹ, và từ khi nó trông nom đồng áng thì chẳng có ai lấy trộm lúa ruộng nhà nó như trước nữa.

Một hôm, có mấy thư sinh đi qua ruộng nó, dẫm lên lúa, bỗng nghe có tiếng lanh lảnh như giọng con gái bảo rằng: “Xin các cậu đi cho có ý tứ kẻo làm nát lúa nhà em”. Lũ thư sinh nhìn vào ruộng lúa, chẳng thấy ai, chỉ thấy một con cóc đang ngồi đó. Tiếng nói dịu ngọt làm cho một anh trong bọn đâm ra có cảm tình. Chàng thư sinh này bấy lâu đọc sách đạo thần tiên, tin tưởng có sự mầu nhiệm ở đời, nên về nhà nói với cha mẹ xin hỏi cóc làm vợ.

Ban đầu cha mẹ thư sinh tưởng con mình hóa dại, song anh ta cứ một mực đòi lấy cóc làm vợ cho kỳ được, nếu không thì thề quyết chẳng lấy ai. Người cha bèn kiếm cớ từ khước, bảo chỉ có một mình anh ta là con trai, cưới cóc về có sinh ra được con cái để nối dòng không? Thư sinh tin là sẽ có sự nhiệm màu xảy đến trong ngày cưới cóc về, Tiên Phật sẽ giúp cho cóc thành người có đức hạnh, nhan sắc hơn đời. Thấy con đã nhất quyết như vậy, cha mẹ anh ta cũng đành phải chiều theo, đem trầu cau đi hỏi cóc.

Đến ngày cưới, bên nhà trai mang đủ lễ vật, đồ nữ trang, quần áo cho cô dâu như người thường, chàng rể hy vọng Tiên Phật hóa phép cho cóc thành một cô gái xinh tươi như chàng vẫn mộng tưởng. Cả hai họ cũng trông mong như vậy, nhưng đến khi rước dâu, mọi người phải tức cười và xấu hổ vì đưa đón một con cóc nhảy về nhà chồng.

Cha mẹ chồng vừa rầu, phiền cho con trai, vừa chua xót vì con dâu cóc, liền cấp ruộng cho đôi lứa đi ở riêng. Thư sinh cũng buồn lòng, cặm cụi học hành, nghiên cứu các khoa học thần bí, hy vọng gỡ rối cho gia đình, nhất là đối với cha mẹ già đang khát khao có cháu bế. Cóc thì siêng năng công việc ở nhà, thức khuya dậy sớm khuyên chồng chăm chỉ bút nghiên.

Ngày ngày anh ta đi học về thì đã thấy cơm nước sẵn sàng, nhà cửa sạch sẽ ngăn nắp, mới nghĩ bụng rằng trong lúc vắng mình, chắc vợ trút lốt cóc thành người, chứ một con cóc thì làm sao lo việc nội trợ khéo léo được thế kia? Mấy bận anh ta thử rình, ra đi rồi thình lình trở về bất ngờ, hy vọng bắt gặp vợ là một cô gái xinh đẹp, song chỉ thấy một con cóc sần sùi ở nhà. Anh van nài cóc hóa thành người đẹp cho mình được sung sướng, nhưng cóc vẫn thản nhiên không tỏ vẻ gì cả.

Một tối, anh cho cóc hay tin mình được bổ đi dạy ở trường tỉnh, ngỏ thật rằng mình không thể đưa vợ đi theo nếu vợ vẫn giữ lốt cóc. Từ ngày cưới về anh ta đã chịu biết bao lời chế diễu của hàng xóm, bè bạn. Hơn nữa, cha mẹ vẫn thúc dục anh lấy thêm vợ khác để có con nối nghiệp tông đường. Cóc lặng yên nghe chồng than thở, khuyên chồng chớ nên quá buồn phiền, và xin phép hôm sau về nhà thăm cha mẹ.

Sáng ngày, cóc đi theo chồng, được một quãng thì nhảy vào một cái bụi bên đường. Thư sinh dừng bước lại thì thấy ở bụi cây đi ra một cô gái xinh đẹp lạ lùng, quá sức ước mong của anh bấy lâu. Anh sung sướng ngẩn ngơ nhìn người vợ đẹp lại gần, say đắm ngắm nghía vợ từ đầu đến chân rồi thiết tha xin vợ từ đây cứ giữ hình người. Biết là vợ đã trút lốt cóc ra trong bụi, anh ta kiếm cớ đi lùi lại sau rồi chạy lẻn đến bụi tìm lốt cóc mà dấu vào mình.

Đến nhà, cha mẹ thư sinh mừng rỡ thấy con dâu cóc đã hóa ra người xinh đẹp, dịu dàng. Anh chồng hân hoan thừa lúc mọi người không để ý đến, đem lốt da cóc bỏ vào bếp lửa cho tiêu tan. Hai vợ chồng ở lại nhà cha mẹ cả đôi bên luôn mấy ngày, vui vẻ tiệc tùng liên tiếp rồi mới trở về nhà.

Trên đường về vợ kiếm cớ vào bụi cây để tìm lại lốt cũ, không thấy, chồng mới cho hay là mình đã lấy đốt đi rồi. Vợ đành phải giữ nguyên hình người để về với chồng.

Hai vợ chồng ăn ở với nhau đằm thắm vui vẻ, vợ sinh được nhiều con cái, chồng học thi đỗ cao làm nên chức lớn, sống một đời sung sướng.

Chúc các bạn vui vẻ.
Chi tiết

Truyện cổ tích Cô đào hát với người học trò nghèo

Truyện cổ tích Cô đào hát với người học trò nghèo

Ngày xưa, có một đứa bé thông minh tên là Nguyễn Kỳ, mẹ mất sớm, cha lấy vợ khác. Kỳ bị dì ghẻ hành hạ ác nghiệt nên phải bỏ nhà mà đi.

Lang thang khắp nơi, Kỳ gặp một cụ cử cho ở lại nhà và cho học chữ. Sẵn khiếu thông minh, Kỳ không những theo kịp các bạn, mà còn nổi tiếng giỏi văn thơ.

Một hôm Kỳ theo bạn học đi xem ca múa, thấy mình nghèo nên đứng trong góc nhà, chợt cô đào hát trông thấy, và hôm sau, khi Kỳ đang ngồi đọc sách thì cô đào đem 10 nén bạc đến làm quen. Kỳ nhất định không lấy, nhưng cô ta nài ép, để bạc đấy rồi bỏ đi. Cách ít lâu, nàng trở lại, rồi trở lại nữa. Hai bên dần dần quen nhau. Một hôm, không còn tự chủ được trước người con gái đẹp, giọng thướt tha, Kỳ làm một cử chỉ suồng sã, rồi hối hận ngay. Nhưng cô đào nghiêm nghị trách:

“Anh chớ vội tưởng lầm, em tìm đến anh vì trọng người đứng đắn, vì nghĩ đến tương lai, muốn tìm nơi nương tựa lâu dài, anh đừng nghĩ em là phường bậy bạ.”

Từ đó Kỳ càng trọng kính cô đào hơn, và cô vẫn giúp Kỳ qua cơn túng thiếu.

Trước ngày lên đường đi thi, Kỳ muốn biết tông tích cô đào, muốn liên lạc với cô sau này, nhưng cô chỉ nói:

“Sau này nếu anh không quên em, thì em sẽ tìm đến với anh, nếu anh quên em, thì hỏi tông tích em cũng vô ích. Phần em, em không đòi anh hứa gì cả, chỉ có Trời biết lòng em.”

Khi Kỳ thi đỗ trở về quê, cha chàng bắt kết hôn với người “môn đăng hộ đối”. Kỳ hết sức từ chối, nhất quyết thà chết hơn phụ bạc người đã một lần yêu thương giúp đỡ, nhưng cha chàng cũng nhất quyết không chịu cho quan chức kết duyên với cô ả đào, không nhận ả đào làm con dâu. Nguyễn Kỳ đau khổ, nhưng lễ giáo bắt buộc, bổn phận làm con bắt buộc, nên chàng đành phải lấy vợ theo ý cha.

Năm sau, chàng ra kinh đô thi tiến sĩ, cô đào mang đủ thứ đến thăm. Thấy Kỳ có vẻ ngượng ngùng, cô hiểu ngay, và từ biệt hẳn.

Nguyễn Kỳ thi đỗ, làm quan trong triều, đi sứ bên Tàu, dẹp loạn ở Hải dương, được vua ban thưởng tước “quận công”.

Danh vọng cao, tiền bạc sẵn, con cái đông, nhưng Kỳ luôn nhớ tới tình cô đào hát xưa, cho người dọ hỏi khắp nơi, nhưng không gặp.

Một hôm, trong bữa tiệc tại nhà người quan bạn, Kỳ đã tình cờ gặp lại cô đào, bấy giờ nàng đã có chồng làm lính, nhưng nay chồng đã chết, chỉ còn có mẹ già yếu bệnh, nàng phải trở lại nghiệp hát để nuôi mình và nuôi mẹ.

Nguyễn Kỳ cố mời hai mẹ con về ở trong dinh, nàng đành chấp nhận. Kỳ dành cho mẹ con ngôi nhà riêng, và không để cho thiếu thốn vật gì. Một năm sau bà cụ mất, Nguyễn Kỳ cho chôn cất trọng thể. Xong rồi nàng cảm ơn và xin phép từ biệt. Nguyễn kỳ không giữ lại được, nài nỉ nàng nhận lấy vài nén bạc, nàng cũng từ chối mà ra đi.

Một câu chuyện hay các bạn nên đọc nhé
Chi tiết