Những câu nói hay nhất châm ngôn sống

Một ngày kia anh đi bên người khác
Em mỉm cười cầu chúc hãy nên duyên
Vì tình yêu anh chớ mang họ sở
Kẻo cuộc đời sẽ gặp chuyện tai ương.

Đố ai nằm võng không đưa?
Đố ai gặp lại người xưa không nhìn?
Đố ai quên được chữ tình?
Đố ai quên được bóng hình người yêu.?

Nếu biết trước người làm tôi đau khổ.
Tôi xin được làm gỗ đá vô tri.
Không biết khóc,biết buồn hay oán hận.
Để không còn đau nhói ở trog tim

Kỷ niệm ơi! sao chẳng mờ phai
Cho ta quên được bóng hình ai
Quên bao quá khứ, quên mơ ước
Quên cả trong ta kiếp đọa đày…

Thêm một ngày thả nỗi nhớ đi hoang.
Ta lang thang trên vỉa hè ký ức.
Nhặt nỗi buồn biết niềm đau có thật.
Và bất chợt ta cảm thấy cô đơn.
Chi tiết

Nếu tình anh là biển

Nếu tình anh là biển
Tình em chẳng là thuyền
Lênh đênh và nhỏ bé
Giông bão cả bình yên.
Nếu tình anh là biển
Em nguyện hóa đất hiền
Ôm một đời, một kiếp
Hôn cho bõ chao nghiêng.
Nếu tình anh là nhớ
Tình em sẽ là thơ
Thơ như mắt anh nhỏ
Anh có thấy bao giờ?
Nếu tình anh là nhớ
Đố nhớ nhiều hơn em
Mỗi lần chênh nhịp thở
Mỗi lần hé môi mềm.
Nếu tình anh là anh
Thì thôi em đành chịu
Vì một điều dễ hiểu
Như chiếc lá màu xanh.
Chi tiết

Yêu em lắm tuy xa khoảng cách

Yêu em lắm tuy xa khoảng cách
Cho lòng buồn thử thách thời gian
Một mình suy nghĩ miên man
Nhìn đêm buông xuống ngắm màn sương rơi

Anh vẫn biết ở nơi xa đó
Em hàng đêm lệ nhỏ sầu bi
Gửi vào đêm vắng những gì
Để nhờ làn gió mang đi tới nàng

Nhìn ánh mắt mơ màng nơi ấy
Anh nơi này cũng thấy buồn sao
Con tim thầm nhủ ước ao
Tình mình đẹp lắm lẽ nào chia hai

Ngày mới đến ban mai rực nắng
Mình bên nhau trao tặng yêu thương
Hoa tình yêu nở ngát hương
Vòng tay ân ái môi hường trao duyên

Thời gian sẽ đưa thuyền cặp bến
Rồi niềm vui sẽ đến mọi nhà
Xuân về rạng rõ sắc hoa
Tình đôi mình mãi đậm đà thủy chung.
Chi tiết

Bài thơ tình hay mang tựa đề Hạnh phúc bên anh chị nhé!

Chị ơi!
Anh ấy không thuộc về em đâu
Em chỉ là một người đàn bà như muôn ngàn người đàn bà khác.
Người đàn bà khao khát
Khi yêu...

Thơ tình: Hạnh phúc bên anh chị nhé! - 1

Chị ơi!
Em chơ vơ mỗi chiều
Em lạnh thắt lòng giữa miền chăn chiếu
Mơ hoang...

Chị ơi!
Em chẳng là người tình trong giấc mộng vàng
Chẳng là nàng thơ mộng mơ
Chẳng là vọng phu trên bến sông chờ
Em chỉ là phận đời bất hạnh vô tình anh gặp và thương cảm vậy thôi.

Chị ơi!
Chị đã bên anh ngần ấy năm rồi
Anh là người thủy chung đúng không
Anh là người nội tâm đúng không
Em hiểu điều đó từ những bài thơ anh viết cho chị và cho em.

Chị ơi!
Hình như em đã yêu anh
Yêu tấm chân tình anh dành cho người em gái
Yêu vần thơ cảm thông bao phận đời ngang trái
Cả ánh mắt đắm say anh nhìn chị mỗi ngày.

Chị ơi!
Em không buồn không khóc đâu
Bởi em biết người em yêu là người đàn ông chuẩn mực
Người đàn ông mà bao người phụ nữ như chị, như em mong có được
Trên đường đời chông chênh

Chị ơi!
Hạnh phúc bên anh chị nhé!

Nguồn: Tổng hợp
Chi tiết

Truyện cổ tích Sự tích trầu cau và vôi

Ngày xửa ngày xưa, ở nhà nọ có hai anh em ruột, người anh tên là Tân, còn người em tên là Lang. Đặc biệt nhất chính là Tân và Lang có khuôn mặt và dáng người giống hệt nhau, đến cả người nhà của họ cũng không ít lần nhầm lẫn họ với nhau. Cha của họ là người cao và to nhất ở trong vùng này, ông đã được vua Hùng cho triệu kiến về Phong Châu để ban thưởng, cũng đặt tên cho là Cao. Kể từ ngày đó trở đi thì mọi người trong gia đình bắt đầu lấy tiếng “Cao” trở thành tên họ cho mình.

Khi hai anh em họ vừa lớn lên thì cả cha lẫn mẹ đều nối tiếp nhau mà qua đời. Vì vậy nên cả người anh lẫn người em đều hết sức quyến luyến nhau, cũng không chịu rời nhau lấy nửa bước. Trước lúc người cha qua đời thì có đem Tân gửi gắm cho người đạo sĩ trong làng họ Lưu.

Tuy nhiên, lúc Tân tới để theo học, Lang chẳng chịu được việc phải ở nhà một mình nên cũng cố cầu xin vị đạo sĩ họ Lưu kia cho phép mình được học cùng với anh trai. Ở nhà của họ Lưu ấy có cô con gái đồng lứa với hai người họ.

Cô gái họ Lưu này muốn tìm hiểu xem trong hai người thì người nào mới là anh, còn người nào là em. Một ngày nọ, cô mới nghĩ ra được mẹo nhỏ để thử. Đúng lúc cả hai anh em đều đang đói thì nàng mới đem dọn đồ ăn ra, nhưng mà nàng chỉ đem ra có duy nhất một bát cháo cùng với một đôi đũa mà thôi. Sau đó nàng đứng nấp ở ngay sau khe vách, và nàng cũng rõ ràng nhìn thấy được người nhường bát cháo kia cho người còn lại. Nàng thì thầm:

– À, hóa ra người anh chính là anh chàng vui tính kia!

Cũng kể từ khi đó thì Tân cùng với cô gái họ Lưu ấy có thêm rất nhiều những buổi gặp gỡ khác. Lâu dần giữa họ nảy sinh tình cảm, và tình yêu cứ càng ngày lại càng khăng khít hơn.

Thấy vậy thì vị đạo sĩ họ Lưu cũng vui lòng mà đem gả con gái mình cho Tân. Về sau thì cả hai vợ chồng dọn đến ở một căn nhà mới, tất nhiên là có cả Lang cùng sống chung.

Kể từ ngày có vợ, tuy rằng Tân vẫn như trước chiều chuộng e trai, nhưng mà lại chẳng âu yếm nữa. Ngày trước thì Lang thường nhận được sự quan tâm, chăm sóc tỉ mỉ của anh trai, nhưng giờ thì chàng lại phải chịu rất nhiều ngày chìm trong sự cô đơn, lẻ loi. Hơn nữa, Lang cũng dần nhận ra rằng có nhiều lúc Tân dường như muốn lánh mình, vì vậy trong lòng chàng lại tràn đầy nỗi buồn bực, chán nản:

– Cũng phải thôi, anh ấy bây giờ chỉ mê vợ mà quên mất ta rồi!

Vào một ngày nọ, Tân cùng với Lang đi lên nương làm việc đến tận khi trời đã tối mịt thì hai anh em mới trở về. Lang về đến nhà trước. Khi chàng vừa đưa chân đặt lên trên ngưỡng cửa, bỗng nhiên vợ của Tân đang ở trong buồng chạy vụt ra, chẳng nói chẳng rằng mà ôm chầm lấy Lang. Chàng giật mình kêu lên. Sự nhầm lẫn này của chị dâu khiến cho cả hai cùng cảm thấy ngượng nghịu và xấu hổ vô cùng. Đúng lúc ấy thì Tân lại bước vào trong nhà.

Và cũng kể từ lúc ấy thì Lang biết thêm được một tính tình rất mới của anh trai. Tân ghen với em trai mình. Cái ghen này lại càng làm cho sự hờ hững của Tân với chàng càng thêm nhiều. Thấy vậy thì Lang cảm thấy vừa giận lại vừa thẹn. Lúc này thì chàng chỉ muốn được bỏ nhà đi chõ bõ cái ghét của mình.

Vào một hôm, khi trời chỉ mới vừa mờ sáng thì Lang đã quyết định phải khởi hành đi xa. Chàng men theo con đường mòn mà đi mãi, giờ đây trong lòng của chàng tràn đầy nỗi bực bội, cùng sự oán trách người anh trai vốn trước đây vô cùng thương yêu mình lại có thể thay đổi nhiều đến thế.

Chàng cứ thế đi liền mấy ngày đường. Chàng đi mãi, đi mãi và dừng chân ở bên bờ của một con sông rất lớn. Nước sông chảy rất xiết, khiến chàng cảm thấy có chút ngại ngùng.

Ở chung quanh đây cũng chẳng thể nào nghe được tiếng chó sủa hay gà gáy nào. Tuy nhiên thì Lang nhất định không muốn trở lại nhà. Tủi thân, chàng ngồi gục ngay cạnh bờ mà khóc. Rồi chàng cứ khóc mãi như vậy, khóc đến mức mà những chú chim bay đi kiếm ăn khuya mà vẫn có thể nghe được tiếng khóc nức nở của chàng. Đến sáng ngày hôm sau thì chàng Lang của chúng ta đã là cái xác vô hồn. Và chàng đã hóa thành đá.

Còn về phần Tân, chàng ở nhà không thấy em đâu thì lúc đầu cũng chẳng chú ý mấy. Nhưng mãi sau vẫn chẳng thấy em mình trở về, đến lúc này chàng mới vội vàng tìm đến mấy nhà quen biết, nhưng mà cũng chẳng tìm thấy bóng dáng Lang đâu cả. Tân cũng biết rõ em trai bỏ đi là vì giận dỗi với mình, lúc này cảm thấy hối hận vô cùng.

Đến hôm sau vẫn chẳng thấy Lang về, Tân hốt hoảng lắm, đành phải bỏ vợ ở nhà một mình cất bước để đi tìm em. Mấy ngày đường ròng rã, Tân tới được bờ của con sông lớn.

Tìm mãi nhưng cũng chẳng tìm được cách nào để có thể qua được con sông này, Tân đành phải đi men theo bờ sông, sau cùng thì nhìn thấy em trai mình đã hóa đá tự bao giờ. Tân đứng lặng người ở bên hòn đá ấy, chàng bật khóc, khóc cho đến khi khắp không gian chỉ còn lại có tiếng dòng nước đang chảy cuồn cuộn ở dưới sông mà thôi. Và Tân chết đi, chàng biến thành một cái cây có thân thẳng đứng lên trên trời, mọc ngay cạnh bên hòn đá kia.

Vợ của Tân ở nhà chờ đợi mãi mà chẳng thấy chồng mình về, nàng sốt ruột lắm, sau không đợi được nữa nên cũng bỏ nhà mà đi tìm chồng. Nhưng sau cùng thì bước chân nàng cũng bị con sông lớn ngăn cản. Sau đó thì nàng ngồi cạnh cái cây cao rồi khóc đến cạn hết nước mắt. Nàng chết đi hóa thành loại cây dây và quấn quanh thân cây cao lớn kia.

Chờ mãi mà chả thấy người nào trở về, vợ chồng vị đạo sĩ họ Lưu liền đi nhờ tất cả mọi người ở trong làng cùng nhau chia đường tìm kiếm. Đến nơi hòn đá cùng với hai loại cây lạ thì mọi người cũng chỉ còn biết bảo nhau lập miếu để thờ cả ba người ở ngay bên ven sông. Tất cả nhân dân xung quanh vùng ấy đều gọi miếu đó là “Anh em thuận hòa, vợ chồng nghĩa tiết”.

Sau này, có một năm trời hạn hán dữ dội. Tất cả cỏ cây, hoa lá trong vùng đều khô héo hết. Nhưng riêng hai loại cây mọc ở bên cạnh hòn đá ngay trước miếu thì vẫn xanh tươi mơn mởn. Tất cả mọi người đều cho đó là một điều linh dị.

Có hôm vua Hùng ngự giá ngang qua vùng đó. Lúc đi qua miếu thì vua khá ngạc nhiên vì nhìn thấy có cảnh lạ và cây lạ. Vua hỏi:

– Miếu nơi này là thờ thần nào? Còn mấy loại cây lạ này cũng là lần đầu ta trông thấy?

Lạc tướng thấy vua hỏi thì liền gọi tới mấy cụ già ở trong vùng đến để trả lời. Khi nghe mấy cụ già kể lại câu chuyện xưa, càng nghe thì vua Hùng lại càng cảm thấy cảm động.

Nhà vua liền vạch lá để trèo lên trên cao, nhìn ngắm quang cảnh chung quanh. Sau đó thì vua hạ lệnh cho một cận vệ trèo lên trên cây để hái quả xuống cho mình nếm thử. Vua ăn quả thấy có vị chát, nhưng cũng chẳng có gì là lạ cả. Tuy nhiên, khi nhà vua nhai quả ấy cùng lá của cây dây leo kia thì lại thấy có vị gì là lạ ở nơi đầu lưỡi. Cái vị này nó vừa thơm cay lại vừa ngon ngọt.

Đột nhiên có viên quan hầu bên cạnh hét lớn:

– Trời ơi là trời! Có máu!

Tất cả mọi người đều đứng giãn ra, vẻ mặt vô cùng kinh ngạc. Hóa ra là mấy thứ bã khi nhai quả cùng với lá của hai loại cây kia, một khi nhổ xuống đá thì đổi màu đỏ ối như là máu vậy.

Nhà vua lập tức sai người lấy ba thứ đó nhai lẫn cùng với nhau, và đột nhiên thấy cả người như nóng hừng hực, cảm giác như là có ít hơi men trong người, môi thì đỏ tươi, còn sắc mặt thì rất hồng hào. Vua liền bảo:

– Đúng là linh dị mà! Chính là bọn họ! Tình thương yêu của họ vô cùng nồng nàn và thắm đỏ.

Kể từ đó trở đi thì vua Hùng liền ra lệnh tất cả mọi nơi cùng nhau gây giống và trồng thật nhiều hai loại cây kia. Điều đặc biệt nhất chính là trong luật, nhà vua đã yêu cầu trai gái, khi kết hôn cùng với nhau thì bắt buộc phải tìm đủ ba thứ: trầu, cau cùng với vôi, để cho tất cả mọi người cùng nhai và nhổ một ít để ghi dấu tình yêu chẳng bao giờ bị phai nhạt.

Và cũng kể từ đó mà dân Việt ta mới hình thành tục ăn trầu.
Chi tiết

Truyện cổ tích Sự tích ông bình vôi

Gửi đến bạn đọc Truyện cổ tích Sự tích ông bình vôi

Ngày xưa, có một người con gái con một nhà giàu có. Cô rất đẹp nhưng cũng rất kiêu. Cô đã từng làm cho các bạn gái xa lánh mình. Cô làm cho các chàng trai ghét cô vô hạn. Cũng vì thế đến tuổi lấy chồng, cô gái vẫn chưa có đám nào vừa ý. Chàng trai nào cũng bị cô sổ toẹt, vì cao chê ngỏng, thấp chê lùn, lớn chê béo trục béo tròn, gầy chê xương sống xương sườn bày ra.

Nhưng rồi cô cũng lấy được chồng. Chồng cô yêu vợ nhưng lại bực mình vì thói ghen của vợ. Cô ghen chồng làm cho xóm giềng luôn cau mặt vì những lời qua tiếng lại của họ. Cuối cùng hai người không vừa ý nhau và ly dị. Buồn bực vì duyên phận, cô bỏ đi tu.

Cô xuất gia ở một ngôi chùa cổ trên núi suốt hai mươi năm. Những con chim, con thú rừng hầu như quen thuộc bóng dáng của người sư nữ. Hai mươi năm qua, cô vẫn chưa đắc đạo. Cô thắc mắc, vì tự cho mình thông kinh kệ hơn người và chịu đủ mọi sự khổ hạnh của nhà chiền. Một ngày kia cô quyết định sang Tây trúc một phen để tìm cho ra lẽ. Đường sang Tây-trúc thiên nguy vạn hiểm nhưng cô quyết định đi cho bằng được.

Một hôm, sau khi vượt qua một trái núi, sư nữ tìm vào một ngôi nhà hẻo lánh dọc đường để nghỉ chân. Hai mẹ con chủ nhân tuy người rừng núi quê mùa nhưng vốn là kẻ ăn chay niệm Phật, nên thấy khách là nhà tu hành thì tiếp đãi rất hậu. Khi được nghe kể công trình tu luyện của sư nữ họ càng cung kính, coi như bậc thầy. Và khi biết rõ ý định của sư nữ thì họ cũng xin phép bỏ nhà bỏ cửa đi theo thầy để mong được đắc dạo. Nghe họ câu khẩn, sư nữ cười: – Hai mẹ con nhà này cũng muốn thành Phật ư? Được, cứ đi theo ta!. Nhưng bụng nàng bảo dạ: – “Chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre”.

Từ hôm đó nhà sư có thêm hai người bạn đồng hành. Chân bớt mỏi, đường bớt dài, họ đi chả mấy chốc đã tới đất Thánh. Từ trước đến sau, hai mẹ con nhà nọ vẫn cung kính, coi sư nữ như thầy. Còn sư nữ đối với họ không được như trước: – Không biết chừng họ được thành Phật trước ta. Họ sẽ hơn ta… Bọn này mà đắc đạo, thật là một điều nhục cho Thiền môn.

Nói chuyện đức Phật khi vừa nghe tin có người tìm đường đến Tây-trúc cầu đạo, vội hóa thân đi theo dõi. Từ đầu đến cuối, đức Phật vẫn không bỏ sót một lời nói, một cử chỉ nào của sư nữ. Khi họ sắp qua một con sông rộng, đức Phật hóa phép hiện ra ở bên kia bờ một tòa cổ tự, trước cửa có một cây bồ đề rất lớn, để chờ họ.

Muốn cho hai mẹ con khỏi lẽo đẽo theo mình đến đất Thánh, nên khi qua sông sư nữ giả cách ngạc nhiên, chỉ ngôi chùa và ngôi đền mà bảo rằng:

– Kìa, chúng ta đã tới Tây trúc. Chóng thật! Chính là cây bồ đề của đức Thế Tôn tu luyện ngày xưa. Thôi! Hai mẹ con cứ việc trèo lên một cành cao niệm kinh rồi buông tay rơi xuống là tức khắc thành Phật!.

Tin tưởng ở lời nói của bậc thầy, hai mẹ con mừng rỡ làm theo không chút ngần ngại. Nhưng khi họ buông tay cho người rơi xuống thì đức Phật đã đón họ đưa lên trời. Có bốn vị La hán mang tòa sen đến rước đi. Tay hai mẹ con vẫy vẫy như có ý gọi người bạn đồng hành.

– “Đúng là họ thành Phật rồi!. Sư nữ vừa kinh ngạc vừa mừng, vội trèo lên cây để làm như họ và để mong được như họ. Nhưng đức Phật đã có ý trừng phạt người đàn bà kiêu ngạo và độc ác ấy một cách đích đáng, nên đã để cho cái xác rơi phịch xuống đất, tan xương vỡ sọ. Và sau đó đức Phật lại bắt con người khốn nạn ấy hóa thành bình vôi. Tại sao lại cho hóa thành bình vôi? Có người bảo chính là đức Phật muốn bắt những kẻ trong lòng bất nhân, nhưng lại đeo bộ dạng từ bi, phải để cho người đời luôn luôn móc ruột.

Một truyện khác nhiều tính chất phật thoại cũng nói về sự tích ông bình vôi:

Có một anh ăn trộm từng sống bao nhiêu năm với nghề. Hắn ta không vợ con gia sản, chỉ độc có một túp lều bên cạnh đường cái. Một hôm, có cặp vợ chồng người ăn mày qua đó xin trú chân. Hắn cho họ ở lại và sau đó hắn thấy chồng bảo vợ: – “Hôm nay không xin được tí gì cả. Gần đây có một nương khoai, chờ đến tối tôi sẽ đào trộm về ăn”. Vợ can chồng: – “Thôi đi ông! Chỉ vì kiếp trước chúng ta ăn ở thất đức nên mới như thế này. Có lẽ nào phạm thêm vào cho nặng tội kiếp sau. Tôi thà chết không ăn trộm!”.

Người ăn trộm nghe chuyện bỗng dưng hối hận. Cuối cùng hắn giao tất cả nhà cửa cho hai vợ chồng người ăn mày rồi bỏ di. Hắn tìm đến một ngôi chùa trên núi cao xin hòa thượng cho cạo đầu tu hành. Người ta giao cho hắn công việc nấu ăn: một bữa phải nấu từ tinh sương và một bữa từ chiều. Phận sự của hắn là giữ lửa không được để tắt, vì một lần tắt lửa thì lại phải xuống núi xin về, cách xa hàng bao nhiêu dặm.

Từ lúc nhận việc nhà chùa, hắn tỏ ra chu đáo lạ thường, chưa có bữa nào để lửa tắt. Một sư bác trên chùa ghét chú tiểu mới, bèn chờ một hôm tiểu ta ngủ say, tưới tắt lửa nhấm ở bếp.

Gần sáng, chú tiểu dậy thấy không còn lửa, nghĩ đến phận sự, vội vã ba chân bốn cẳng vượt mấy khu rừng tìm xuống làng xin lửa. Giữa đường hắn gặp một con cọp già đòi ăn thịt. – “Tôi vui lòng để ngài xơi thịt – hắn nói – nhưng hãy cho tôi chạy xuống làng xin lửa cho nhà chùa, rồi tôi sẽ tới nộp mạng”.

Cọp bằng lòng để cho đi. Khi đưa được lửa về, hắn kể sự tình và xin phép hòa thượng cho đi nộp mình cho cọp. Đến nơi, cọp bảo: – “Tao già rồi, răng đã rụng hết mà xương của mày cứng khó nhai. Vậy mày hãy trèo lên cây kia buông mình rơi xuống cho gẫy xương, tao mới ăn được”. Hắn vâng lời cọp, nhưng khi buông tay thì đức Phật đã đón sẵn rước lên trời, độ cho thành Phật, tức là Phật Nhiên Đăng.

Vị sư bác kia thấy chú tiểu chỉ bằng vài hành động đơn giản mà được  thành chính quả thì cũng muốn được như thế. Hắn bèn xin phép hòa thượng cho mình ra đương việc nấu ăn và giữ lửa. Thế rồi một hôm hắn cũng giả tảng để cho lửa tắt, rồi cũng chạy xuống núi xin lửa. Và hắn cũng gặp cọp, cũng khất cọp xin đưa lửa về cho nhà chùa dùng rồi sau đó sẽ xin nộp mình. Nhưng đức Phật vốn hiểu rõ những việc làm của hắn xuất phát từ tấm lòng không thực, nên khi hắn trèo lên cây và buông tay, thì Phật lập tức bắt hắn hoá thành bình vôi.

Một dị bản của truyện trên cũng là một phật thoại, là Sự tích cái ống nhổ.

Ở đây cũng có hai nhân vật chính là chú tiểu và sư bác. Chú tiểu mới đi tu nhưng rất chăm chỉ, biết lo lắng làm tròn chức trách. Thấy lửa ở đống nhấm tắt (kỳ thực là do sư bác ghen tỵ phun nước cho tắt), tiểu không nề hiểm nguy chạy xuống núi vào lúc mờ sáng để có lửa về kịp nấu ăn cho nhà chùa. Phật hiện ra với trạng mạo một ông già khuyên can chú tiểu đừng đi, nhưng thấy chú cương quyết đi, bèn bảo chú trèo lên cây buông tay xuống, sẽ có kẻ đưa đi an toàn. Quả nhiên chú tiểu buông tay rơi đúng trên lưng một con muông; nó đưa chú xuống làng, rồi sau khi xin được lửa lại đưa về vô sự.

Sư bác vốn không phải là chân tu, nhưng thấy chú tiểu gặp Phật, cũng muốn được như vậy, bèn cũng xin ra làm công việc nấu ăn và giữ lửa, sau đó hắn đã để tắt lửa và cũng được gặp Phật. Nhưng khi buông tay thì Phật đã bắt hắn hoá thành cái ống nhổ, miệng luôn luôn há ra cho người ta khạc nhổ vào, để tỏ lòng khinh bỉ.

Chúc bạn vui vẻ
Chi tiết

Truyện ngụ ngôn Bài học đầu tiên của Gấu con

Ngày chủ nhật Gấu con xin phép mẹ ra đường chơi cùng các bạn. Gấu mẹ dặn:

– Con chơi ngoan nhé. Nếu làm sai điều gì, con phải xin lỗi. Được ai giúp đỡ thì con phải cảm ơn.

Gấu con tung tăng chạy nhảy và mải lắng nghe chim Sơn Ca hót nên va phải bạn Sóc khiến giỏ nấm văng tung toé ra đất. Gấu con vội vàng khoanh tay và lễ phép nói:

– Cảm ơn bạn Sóc!

Nói xong Gấu con cúi xuống nhặt nấm bỏ vào giỏ giúp Sóc. Sóc ngạc nhiên nói:

– Sao Gấu con lại cảm ơn, phải nói xin lỗi chứ!

Mải nhìn Khỉ mẹ ngồi chải lông cho Khỉ con nên Gấu con bị trượt chân, rơi xuống hố sâu. Gấu con sợ quá kêu thất thanh:

– Cứu tôi với! Ai cứu tôi !!!

Bác Voi ở đâu đi tới liền đưa vòi xuống hố và nhấc bổng Gấu con lên mặt đất. Gấu con luôn miệng:

– Cháu xin lỗi bác Voi, Cháu xin lỗi bác Voi!

Bác Voi cũng rất ngạc nhiên liền nói:

– Sao Gấu con lại xin lỗi, phải nói cảm ơn chứ!

Về nhà, Gấu con kể lại chuyện cho mẹ nghe. Gấu mẹ ôn tồn giảng giải:

– Con nói như vậy là sai rồi. Khi làm đổ nấm của bạn Sóc, con phải xin lỗi. Còn khi bác Voi cứu con ra khỏi hố sâu, con phải cảm ơn.

– Con nhớ rồi ạ! – Gấu con vui vẻ nói.
Chi tiết