Những câu nói hay nhất châm ngôn sống

Một ngày kia anh đi bên người khác
Em mỉm cười cầu chúc hãy nên duyên
Vì tình yêu anh chớ mang họ sở
Kẻo cuộc đời sẽ gặp chuyện tai ương.

Đố ai nằm võng không đưa?
Đố ai gặp lại người xưa không nhìn?
Đố ai quên được chữ tình?
Đố ai quên được bóng hình người yêu.?

Nếu biết trước người làm tôi đau khổ.
Tôi xin được làm gỗ đá vô tri.
Không biết khóc,biết buồn hay oán hận.
Để không còn đau nhói ở trog tim

Kỷ niệm ơi! sao chẳng mờ phai
Cho ta quên được bóng hình ai
Quên bao quá khứ, quên mơ ước
Quên cả trong ta kiếp đọa đày…

Thêm một ngày thả nỗi nhớ đi hoang.
Ta lang thang trên vỉa hè ký ức.
Nhặt nỗi buồn biết niềm đau có thật.
Và bất chợt ta cảm thấy cô đơn.
Chi tiết

Nói thế nào cũng khiến trái tim đau

Nói thế nào cũng khiến trái tim đau
Thôi cứ thế chia tay nhau lặng lẽ
Kỷ niệm xưa hãy quên đi người nhé
Yêu thương nào rồi cũng sẽ nguôi ngoai

Tình đôi mình chẳng thể có ngày mai
Mong gì nữa chuyện tương lai hạnh phúc
Nói thế nào cũng không sao thuyết phục
Tranh luận rồi lại ấm ức được thua

Cắt nghĩa thế nào cũng nhận lấy xót chua
Tổn thương nhau liệu có vừa tâm ý
Trót vấn vương đừng làm nhau khó nghĩ
Nhận được gì hay cũng chỉ đắng cay?

Chẳng còn gì thôi cứ thế chia tay
Thứ hạnh phúc đi vay thì nên trả
Kể từ đây mình thành người xa lạ
Bước ngược đường nên hóa những người dưng !
Chi tiết

Chắc người ta thương anh nhiều lắm đấy

Chắc người ta thương anh nhiều lắm đấy
Anh muốn gì họ cứ vậy chiều theo
Chẳng như em, người gì đâu thấy ghét
Tình cạn khô, cằn cỗi giống kẻ nghèo

Chắc bên người anh sẽ luôn vui vẻ
Chẳng ưu tư, chẳng mệt mỏi buồn rầu
Thôi anh hãy trở về bên người ấy
Buông tay nào, em chẳng trách anh đâu

Ừ em biết em là người ích kỷ
Mãi giận hờn chẳng suy nghĩ cho anh
Em cũng biết người ta luôn luôn tốt
Chỉ yêu anh, yêu rất đỗi chân thành

Thôi thì thế, trả anh cho người ấy
Thấy anh cười em cũng sẽ vui ngay
Dẫu cuộc đời còn bao nhiêu ngả rẽ
Yêu anh nhiều họ sẽ chẳng đổi thay

Thôi thì thế, chúc anh luôn hạnh phúc
Đừng nhớ em, đừng day dứt làm gì
Em mạnh mẽ, chẳng bao giờ biết khóc
Hãy yên lòng cứ thế bước ra đi !
Chi tiết

Có một ngày em chẳng nhớ đến anh

Có một ngày em chẳng nhớ đến anh
Đôi mắt biếc không chòng chành khao khát
Lời âu yếm cũng chẳng còn dào dạt
Em xa rồi nghe mặn chát bờ môi

Có một ngày ta không bước chung đôi
Con đường cũ cũng xa rồi hai ngả
Vòng tay ấm nay trở thành xa lạ
Áng mây chiều dường như đã ngừng trôi

Có một ngày giọt nước mắt anh rơi
Mưa xối xả giăng ngập trời trắng lối
Khi em bước về phía ai rất vội
Lời yêu nào đang rộng lối đón em

Có một ngày không mặc áo màu quen
Em đã khoác màu hồng sen sắc biếc
Từ khi đó duyên tình ta vĩnh biệt
Đứng lặng nhìn chứ anh biết làm sao

Có một ngày dõi mắt ngắm trời cao
Lòng tự hỏi có khi nào em nhớ
Ngày xưa ấy đâu biết mình dang dở
Đâu nghĩ rằng tình vụn vỡ chia xa.

Chi tiết

Sân ga chiều sầu tím nỗi biệt ly

Sân ga chiều sầu tím nỗi biệt ly
Của người đi và người ở lại
Cơn gió buồn thổi lên màu tê tái
Ta bùi ngùi níu lại chút phôi phai

Đôi chân mòn sương gió phận làm trai
Anh ra đi với câu thề trở lại
Nước mắt rơi, rơi trong lòng tê dại
Nắm tay mềm xin em một ngày mai

Xe lăn dần hai phương trời chia hai
Anh đâu biết tình nhạt phai theo đó
Bụi mịt mù cuốn theo cùng làn gió
Ngắm nhìn về người yêu nhỏ tiễn anh

Chiều hôm nay thời gian vội lướt nhanh
Tiếng còi xe giành tranh người lữ thứ
Giờ chia tay buồn ơi làm sao giữ?
Nỗi niềm sầu chẳng ngôn ngữ phân minh

Bước lên xe cố ngoảnh mặt lại nhìn
Tìm đâu đó bóng hình người đưa tiễn
Vẫn biết rằng chỉ là cơn mộng viễn
Khẽ gượng cười lấp nỗi buồn vô biên.
Chi tiết

Đến bao giờ chuyện ấy sẽ xảy ra?

Đến bao giờ chuyện ấy sẽ xảy ra?
Ngày em rời xa anh để về bên người khác.
Anh biết rồi một ngày tình yêu kia phai nhạt,
Bởi bấy lâu nay em đã khác quá nhiều...

Điều em chọn không còn là tình yêu,
Hoặc nếu có, cũng không cùng anh nữa...
Nên nếu buộc lòng anh phải chọn lựa,
Anh muốn được nghe chuyện đã biết trước rồi.

Nói đi em dẫu chỉ một lời thôi,
Cho anh thấy điều mình luôn sợ hãi.
Anh không muốn một ngày thành thừa thãi,
Chỉ vì muốn được yêu mà mang nợ một người...

Anh không muốn mình cứ phải gượng cười,
Sau tất cả, đừng dối nhau, tội lắm!
Nên nếu không thể cùng nhau tay nắm,
Hãy nói anh nghe lời tạm biệt sau cùng.
Chi tiết

Có lẽ một ngày rồi em cũng quên anh

Có lẽ một ngày rồi em cũng quên anh
Ta lại trở về như lúc mình chưa đến
Nhưng lần sau gặp chắc không còn bịn rịn
Bởi mùa yêu thương đã lỗi hẹn qua rồi...

Anh vẫn là anh của ngày cũ em ơi
Chỉ khác một điều không còn yêu ai nữa
Và những cơn mơ đã thôi không gõ cửa
Những đêm chập chờn cho giấc ngủ bình yên...

Chúng mình trở về làm người lạ từng quen
Nếu có gặp nhau em đừng nên bối rối
Đường vẫn thênh thang bàn chân quên chờ đợi
Hé một nụ cười rồi rẽ lối người dưng...

Ánh mắt mùa xa chẳng níu một bước dừng
Cứ như vậy nhé để lòng thôi vương vấn
Và để trái tim hiểu ra đừng ngộ nhận
Thứ mà từ lâu chưa chắc thuộc về mình...

Tất cả chúng ta rồi sẽ phải trưởng thành
Mọi nỗi đau cũng chỉ còn là quá khứ
Dĩ vãng không tên chôn vùi điều dang dở
Mình lại lớn thêm từ cay đắng cuộc đời...

Có cuộc tình nào không trắc trở chia phôi
Anh vẫn thầm mong em bên người hạnh phúc
Còn anh mai này dù bến trong hay đục
Cũng phụ lòng riêng đừng đến những con đò...

Nếu lỡ một ngày tất cả hóa tàn tro
Và hai chúng mình đều trở về cát bụi
Sẽ không còn gì để cõi trần tiếc nuối
Bởi những ngày qua ta đã sống chân tình.
Chi tiết

Nếu tình anh là biển

Nếu tình anh là biển
Tình em chẳng là thuyền
Lênh đênh và nhỏ bé
Giông bão cả bình yên.
Nếu tình anh là biển
Em nguyện hóa đất hiền
Ôm một đời, một kiếp
Hôn cho bõ chao nghiêng.
Nếu tình anh là nhớ
Tình em sẽ là thơ
Thơ như mắt anh nhỏ
Anh có thấy bao giờ?
Nếu tình anh là nhớ
Đố nhớ nhiều hơn em
Mỗi lần chênh nhịp thở
Mỗi lần hé môi mềm.
Nếu tình anh là anh
Thì thôi em đành chịu
Vì một điều dễ hiểu
Như chiếc lá màu xanh.
Chi tiết

Yêu em lắm tuy xa khoảng cách

Yêu em lắm tuy xa khoảng cách
Cho lòng buồn thử thách thời gian
Một mình suy nghĩ miên man
Nhìn đêm buông xuống ngắm màn sương rơi

Anh vẫn biết ở nơi xa đó
Em hàng đêm lệ nhỏ sầu bi
Gửi vào đêm vắng những gì
Để nhờ làn gió mang đi tới nàng

Nhìn ánh mắt mơ màng nơi ấy
Anh nơi này cũng thấy buồn sao
Con tim thầm nhủ ước ao
Tình mình đẹp lắm lẽ nào chia hai

Ngày mới đến ban mai rực nắng
Mình bên nhau trao tặng yêu thương
Hoa tình yêu nở ngát hương
Vòng tay ân ái môi hường trao duyên

Thời gian sẽ đưa thuyền cặp bến
Rồi niềm vui sẽ đến mọi nhà
Xuân về rạng rõ sắc hoa
Tình đôi mình mãi đậm đà thủy chung.
Chi tiết

Có thể một ngày anh mãi phải xa em

Có thể một ngày anh mãi phải xa em
Khi hoàng hôn không còn là màu tím
Nắng nhạt màu trong ánh chiều tắt lịm
Phút xao lòng nghe buốt giá con tim…
Có thể một ngày anh mãi phải xa em
Để dấn bước vào dòng đời nghiệt ngã
Quên ánh mắt từng nhìn anh rất lạ
Để nhớ hoài thời hạnh phúc đã qua…
Có thể một ngày em cũng sẽ quên anh
Bằng lăng tím hạ qua rồi cũng nhạt
Em sẽ chẳng thấy điều chi hối tiếc
Trái tim hồng mãi thắp lửa vô tâm…
Có thể một ngày ta chẳng thể quên nhau
Với ánh mắt và nụ cười chân thật
Nụ hôn trao nhau ấm nồng niềm hạnh phúc
Vẫn ngọt ngào mãi mãi đọng bờ môi…
Có thể một ngày…
Có thể…
Thế không em..
Chi tiết

Hãy tha thứ cho anh em yêu nhé

Hãy tha thứ cho anh em yêu nhé
Ta chẳng còn sang sẽ những buồn vui
Anh không thể bên em nở nụ cười
Hay vươn vai mỗi lần em khóc tựa
Hãy tha thứ cho anh thêm lần nữa
Dẫu mai này sẽ mãi mãi cách xa
Khi nỗi nhớ đôi tim đã nhạt nhòa
Và kỉ niệm làm hồn ta héo úa

Hãy tha thứ bởi anh luôn gìn giữ
Ánh mắt buồn những khao khát tim em
Cả nụ cười với dáng đứng nghiêng nghiêng
Anh không thể lãng quên vào quá khứ

Lần cuối cùng anh xin em tha thứ
Đặt dấu chân lên một đoạn đường đời
Khiến những lúc em cảm thấy chơi vơi
Vì anh đã rẽ sang bên lối khác

Anh hi vọng anh là người đi lạc
Để em tìm được hạnh phúc bao la
Rồi mai này năm tháng có trôi qua
Anh vẫn nhớ em người anh yêu thương nhất.
Chi tiết

Bài thơ có tựa đề Anh có ước gì đâu

Anh có ước gì đâu
Một ngôi nhà
Bão dừng sau cánh cửa
Những ưu tư muộn phiền tạm thời bỏ lại
Bên trong, chỉ có ấm áp, và em

Anh có ước gì đâu: Một tách cà phê
Một buổi sáng yên lành
Ta tất bật đón chào ngày mới
Hôm qua là điều đã lùi xa.
Những điều to tát như yêu thương, hờn giận, thứ tha
Hãy để dành cho chú chim đang hót bên ngoài cửa sổ
Đang chờ em là rau đầy một rổ
Bó hoa đang chờ cắm
Và một ngày bận rộn
Của anh.

Anh già rồi
Nên sẽ không thích kiêng khem
Ăn uống ngon, mặc đẹp, đọc những quyển sách hay
Đi lang thang đó đây
Vùi đầu vào việc làm
Hát khi tắm, xem phim khi đang nằm, cuộn tròn khi ngủ
Và yêu em khi anh muốn.
Anh có ước gì đâu
Em ạ!
Cuộc đời này, là phức hợp của những điều giản dị
Ta cứ sống, thở, cầu nguyện và yêu thôi!
Mọi thứ, hoặc chỉ là bản thân nó
Hoặc vốn dĩ đã là một phép màu.
Chi tiết

Thôi anh nhé vẫy chào lần cuối

Thôi anh nhé vẫy chào lần cuối
Để từ đây tiếc nuối giấc mơ
Hè qua Thu đến hững hờ
Buồn trong nỗi nhớ ngẩn ngơ cõi lòng !
Thương với nhớ còn mong chi nưã_
Chờ với trông lần nữa… ra đi
Ngậm ngùi hai chữ biệt ly…
Nén lòng khép vội bờ mi tủi sầu …!
Nỗi đau nhức nhối gối đầu …
Đêm thâu lệ ướt nhạt nhòa tình ơi…?
Đắng cay một kiếp …má hồng
Từng đêm ôm mộng ảo chi…cho bẽ bàng…!
Còn đâu nữa… tình đầy gian dối…????
Người yêu người cho chăn chở đêm thâu…
Dư âm tiếng nói đầu môi…!
Chỉ là giọt đắng khơi lòng nỗi đau …!
Chi tiết

Em không phải là người vĩ đại đâu anh

Em không phải là người vĩ đại đâu anh
C̉hỉ bình thường, mỏng manh như hoa gió
Lúc dạt dào, lúc lững lờ bõ ngõ
Lúc nồng nàn, lúc hờ hững buông lơi.
Mỗi ngày cuối tuần cũng vẫn thích rong chơi
Lượn lờ dạo quanh cùng bạn bè phố xá
Mặc lứa đôi cứ đi về vội vã́
Em độc thân, đã quen với u sầu.
Cũng có những ngày suy nghĩ chuyện đâu đâu
Tưởng tượng đến anh rồi chợt buồn, chợt khóc
Anh biết không anh giữa cuộc đời khó nhọc
Sao tránh khỏi đau buồn, sao tránh nổi hanh hao.
Rồi đêm về trong những giấc chiêm bao
Niềm vui xa vời biết khi nào chạm tới
Em có buồn có suy tư nghĩ ngợi
Thì anh đâu hiểu hết trái tim này.
Chi tiết

Này cô gái, cô đang buồn gì đó

Này cô gái, cô đang buồn gì đó
Lạnh thế này đứng đón gió vậy sao?
Đưa tay đây tôi nắm thử coi nào
Trời! Lạnh quá, ôi ngốc sao là ngốc.
Lại gần đây tôi vuốt giùm mái tóc
Gió thổi hoài rối tung hết rồi đây
Cô sờ xem má lạnh buốt đây này
Tay tôi ấm, lại đây tôi cho mượn.
Đừng bướng nữa, áo đây, cô khoác tạm
Vòng tay này cô có muốn ôm không?
Đừng lặng yên, khiến tôi thấy đau lòng
Nói gì đi, cô nói đi, đừng khóc.
Bờ vai gầy, cô tựa vào một lúc
Hay tựa cả đời…tôi cũng chẳng đòi đâu
Nào ngoan đi, đừng có mãi cứng đầu
Giọt nước mắt để tôi lau giùm nhé.
Tôi muốn nghe tiếng cô cười, cô bé !
Chi tiết

Bài thơ tình hay mang tựa đề Hạnh phúc bên anh chị nhé!

Chị ơi!
Anh ấy không thuộc về em đâu
Em chỉ là một người đàn bà như muôn ngàn người đàn bà khác.
Người đàn bà khao khát
Khi yêu...

Thơ tình: Hạnh phúc bên anh chị nhé! - 1

Chị ơi!
Em chơ vơ mỗi chiều
Em lạnh thắt lòng giữa miền chăn chiếu
Mơ hoang...

Chị ơi!
Em chẳng là người tình trong giấc mộng vàng
Chẳng là nàng thơ mộng mơ
Chẳng là vọng phu trên bến sông chờ
Em chỉ là phận đời bất hạnh vô tình anh gặp và thương cảm vậy thôi.

Chị ơi!
Chị đã bên anh ngần ấy năm rồi
Anh là người thủy chung đúng không
Anh là người nội tâm đúng không
Em hiểu điều đó từ những bài thơ anh viết cho chị và cho em.

Chị ơi!
Hình như em đã yêu anh
Yêu tấm chân tình anh dành cho người em gái
Yêu vần thơ cảm thông bao phận đời ngang trái
Cả ánh mắt đắm say anh nhìn chị mỗi ngày.

Chị ơi!
Em không buồn không khóc đâu
Bởi em biết người em yêu là người đàn ông chuẩn mực
Người đàn ông mà bao người phụ nữ như chị, như em mong có được
Trên đường đời chông chênh

Chị ơi!
Hạnh phúc bên anh chị nhé!

Nguồn: Tổng hợp
Chi tiết

Truyện cổ tích Sự tích trầu cau và vôi

Ngày xửa ngày xưa, ở nhà nọ có hai anh em ruột, người anh tên là Tân, còn người em tên là Lang. Đặc biệt nhất chính là Tân và Lang có khuôn mặt và dáng người giống hệt nhau, đến cả người nhà của họ cũng không ít lần nhầm lẫn họ với nhau. Cha của họ là người cao và to nhất ở trong vùng này, ông đã được vua Hùng cho triệu kiến về Phong Châu để ban thưởng, cũng đặt tên cho là Cao. Kể từ ngày đó trở đi thì mọi người trong gia đình bắt đầu lấy tiếng “Cao” trở thành tên họ cho mình.

Khi hai anh em họ vừa lớn lên thì cả cha lẫn mẹ đều nối tiếp nhau mà qua đời. Vì vậy nên cả người anh lẫn người em đều hết sức quyến luyến nhau, cũng không chịu rời nhau lấy nửa bước. Trước lúc người cha qua đời thì có đem Tân gửi gắm cho người đạo sĩ trong làng họ Lưu.

Tuy nhiên, lúc Tân tới để theo học, Lang chẳng chịu được việc phải ở nhà một mình nên cũng cố cầu xin vị đạo sĩ họ Lưu kia cho phép mình được học cùng với anh trai. Ở nhà của họ Lưu ấy có cô con gái đồng lứa với hai người họ.

Cô gái họ Lưu này muốn tìm hiểu xem trong hai người thì người nào mới là anh, còn người nào là em. Một ngày nọ, cô mới nghĩ ra được mẹo nhỏ để thử. Đúng lúc cả hai anh em đều đang đói thì nàng mới đem dọn đồ ăn ra, nhưng mà nàng chỉ đem ra có duy nhất một bát cháo cùng với một đôi đũa mà thôi. Sau đó nàng đứng nấp ở ngay sau khe vách, và nàng cũng rõ ràng nhìn thấy được người nhường bát cháo kia cho người còn lại. Nàng thì thầm:

– À, hóa ra người anh chính là anh chàng vui tính kia!

Cũng kể từ khi đó thì Tân cùng với cô gái họ Lưu ấy có thêm rất nhiều những buổi gặp gỡ khác. Lâu dần giữa họ nảy sinh tình cảm, và tình yêu cứ càng ngày lại càng khăng khít hơn.

Thấy vậy thì vị đạo sĩ họ Lưu cũng vui lòng mà đem gả con gái mình cho Tân. Về sau thì cả hai vợ chồng dọn đến ở một căn nhà mới, tất nhiên là có cả Lang cùng sống chung.

Kể từ ngày có vợ, tuy rằng Tân vẫn như trước chiều chuộng e trai, nhưng mà lại chẳng âu yếm nữa. Ngày trước thì Lang thường nhận được sự quan tâm, chăm sóc tỉ mỉ của anh trai, nhưng giờ thì chàng lại phải chịu rất nhiều ngày chìm trong sự cô đơn, lẻ loi. Hơn nữa, Lang cũng dần nhận ra rằng có nhiều lúc Tân dường như muốn lánh mình, vì vậy trong lòng chàng lại tràn đầy nỗi buồn bực, chán nản:

– Cũng phải thôi, anh ấy bây giờ chỉ mê vợ mà quên mất ta rồi!

Vào một ngày nọ, Tân cùng với Lang đi lên nương làm việc đến tận khi trời đã tối mịt thì hai anh em mới trở về. Lang về đến nhà trước. Khi chàng vừa đưa chân đặt lên trên ngưỡng cửa, bỗng nhiên vợ của Tân đang ở trong buồng chạy vụt ra, chẳng nói chẳng rằng mà ôm chầm lấy Lang. Chàng giật mình kêu lên. Sự nhầm lẫn này của chị dâu khiến cho cả hai cùng cảm thấy ngượng nghịu và xấu hổ vô cùng. Đúng lúc ấy thì Tân lại bước vào trong nhà.

Và cũng kể từ lúc ấy thì Lang biết thêm được một tính tình rất mới của anh trai. Tân ghen với em trai mình. Cái ghen này lại càng làm cho sự hờ hững của Tân với chàng càng thêm nhiều. Thấy vậy thì Lang cảm thấy vừa giận lại vừa thẹn. Lúc này thì chàng chỉ muốn được bỏ nhà đi chõ bõ cái ghét của mình.

Vào một hôm, khi trời chỉ mới vừa mờ sáng thì Lang đã quyết định phải khởi hành đi xa. Chàng men theo con đường mòn mà đi mãi, giờ đây trong lòng của chàng tràn đầy nỗi bực bội, cùng sự oán trách người anh trai vốn trước đây vô cùng thương yêu mình lại có thể thay đổi nhiều đến thế.

Chàng cứ thế đi liền mấy ngày đường. Chàng đi mãi, đi mãi và dừng chân ở bên bờ của một con sông rất lớn. Nước sông chảy rất xiết, khiến chàng cảm thấy có chút ngại ngùng.

Ở chung quanh đây cũng chẳng thể nào nghe được tiếng chó sủa hay gà gáy nào. Tuy nhiên thì Lang nhất định không muốn trở lại nhà. Tủi thân, chàng ngồi gục ngay cạnh bờ mà khóc. Rồi chàng cứ khóc mãi như vậy, khóc đến mức mà những chú chim bay đi kiếm ăn khuya mà vẫn có thể nghe được tiếng khóc nức nở của chàng. Đến sáng ngày hôm sau thì chàng Lang của chúng ta đã là cái xác vô hồn. Và chàng đã hóa thành đá.

Còn về phần Tân, chàng ở nhà không thấy em đâu thì lúc đầu cũng chẳng chú ý mấy. Nhưng mãi sau vẫn chẳng thấy em mình trở về, đến lúc này chàng mới vội vàng tìm đến mấy nhà quen biết, nhưng mà cũng chẳng tìm thấy bóng dáng Lang đâu cả. Tân cũng biết rõ em trai bỏ đi là vì giận dỗi với mình, lúc này cảm thấy hối hận vô cùng.

Đến hôm sau vẫn chẳng thấy Lang về, Tân hốt hoảng lắm, đành phải bỏ vợ ở nhà một mình cất bước để đi tìm em. Mấy ngày đường ròng rã, Tân tới được bờ của con sông lớn.

Tìm mãi nhưng cũng chẳng tìm được cách nào để có thể qua được con sông này, Tân đành phải đi men theo bờ sông, sau cùng thì nhìn thấy em trai mình đã hóa đá tự bao giờ. Tân đứng lặng người ở bên hòn đá ấy, chàng bật khóc, khóc cho đến khi khắp không gian chỉ còn lại có tiếng dòng nước đang chảy cuồn cuộn ở dưới sông mà thôi. Và Tân chết đi, chàng biến thành một cái cây có thân thẳng đứng lên trên trời, mọc ngay cạnh bên hòn đá kia.

Vợ của Tân ở nhà chờ đợi mãi mà chẳng thấy chồng mình về, nàng sốt ruột lắm, sau không đợi được nữa nên cũng bỏ nhà mà đi tìm chồng. Nhưng sau cùng thì bước chân nàng cũng bị con sông lớn ngăn cản. Sau đó thì nàng ngồi cạnh cái cây cao rồi khóc đến cạn hết nước mắt. Nàng chết đi hóa thành loại cây dây và quấn quanh thân cây cao lớn kia.

Chờ mãi mà chả thấy người nào trở về, vợ chồng vị đạo sĩ họ Lưu liền đi nhờ tất cả mọi người ở trong làng cùng nhau chia đường tìm kiếm. Đến nơi hòn đá cùng với hai loại cây lạ thì mọi người cũng chỉ còn biết bảo nhau lập miếu để thờ cả ba người ở ngay bên ven sông. Tất cả nhân dân xung quanh vùng ấy đều gọi miếu đó là “Anh em thuận hòa, vợ chồng nghĩa tiết”.

Sau này, có một năm trời hạn hán dữ dội. Tất cả cỏ cây, hoa lá trong vùng đều khô héo hết. Nhưng riêng hai loại cây mọc ở bên cạnh hòn đá ngay trước miếu thì vẫn xanh tươi mơn mởn. Tất cả mọi người đều cho đó là một điều linh dị.

Có hôm vua Hùng ngự giá ngang qua vùng đó. Lúc đi qua miếu thì vua khá ngạc nhiên vì nhìn thấy có cảnh lạ và cây lạ. Vua hỏi:

– Miếu nơi này là thờ thần nào? Còn mấy loại cây lạ này cũng là lần đầu ta trông thấy?

Lạc tướng thấy vua hỏi thì liền gọi tới mấy cụ già ở trong vùng đến để trả lời. Khi nghe mấy cụ già kể lại câu chuyện xưa, càng nghe thì vua Hùng lại càng cảm thấy cảm động.

Nhà vua liền vạch lá để trèo lên trên cao, nhìn ngắm quang cảnh chung quanh. Sau đó thì vua hạ lệnh cho một cận vệ trèo lên trên cây để hái quả xuống cho mình nếm thử. Vua ăn quả thấy có vị chát, nhưng cũng chẳng có gì là lạ cả. Tuy nhiên, khi nhà vua nhai quả ấy cùng lá của cây dây leo kia thì lại thấy có vị gì là lạ ở nơi đầu lưỡi. Cái vị này nó vừa thơm cay lại vừa ngon ngọt.

Đột nhiên có viên quan hầu bên cạnh hét lớn:

– Trời ơi là trời! Có máu!

Tất cả mọi người đều đứng giãn ra, vẻ mặt vô cùng kinh ngạc. Hóa ra là mấy thứ bã khi nhai quả cùng với lá của hai loại cây kia, một khi nhổ xuống đá thì đổi màu đỏ ối như là máu vậy.

Nhà vua lập tức sai người lấy ba thứ đó nhai lẫn cùng với nhau, và đột nhiên thấy cả người như nóng hừng hực, cảm giác như là có ít hơi men trong người, môi thì đỏ tươi, còn sắc mặt thì rất hồng hào. Vua liền bảo:

– Đúng là linh dị mà! Chính là bọn họ! Tình thương yêu của họ vô cùng nồng nàn và thắm đỏ.

Kể từ đó trở đi thì vua Hùng liền ra lệnh tất cả mọi nơi cùng nhau gây giống và trồng thật nhiều hai loại cây kia. Điều đặc biệt nhất chính là trong luật, nhà vua đã yêu cầu trai gái, khi kết hôn cùng với nhau thì bắt buộc phải tìm đủ ba thứ: trầu, cau cùng với vôi, để cho tất cả mọi người cùng nhai và nhổ một ít để ghi dấu tình yêu chẳng bao giờ bị phai nhạt.

Và cũng kể từ đó mà dân Việt ta mới hình thành tục ăn trầu.
Chi tiết

Truyện cổ tích Sự tích ông bình vôi

Gửi đến bạn đọc Truyện cổ tích Sự tích ông bình vôi

Ngày xưa, có một người con gái con một nhà giàu có. Cô rất đẹp nhưng cũng rất kiêu. Cô đã từng làm cho các bạn gái xa lánh mình. Cô làm cho các chàng trai ghét cô vô hạn. Cũng vì thế đến tuổi lấy chồng, cô gái vẫn chưa có đám nào vừa ý. Chàng trai nào cũng bị cô sổ toẹt, vì cao chê ngỏng, thấp chê lùn, lớn chê béo trục béo tròn, gầy chê xương sống xương sườn bày ra.

Nhưng rồi cô cũng lấy được chồng. Chồng cô yêu vợ nhưng lại bực mình vì thói ghen của vợ. Cô ghen chồng làm cho xóm giềng luôn cau mặt vì những lời qua tiếng lại của họ. Cuối cùng hai người không vừa ý nhau và ly dị. Buồn bực vì duyên phận, cô bỏ đi tu.

Cô xuất gia ở một ngôi chùa cổ trên núi suốt hai mươi năm. Những con chim, con thú rừng hầu như quen thuộc bóng dáng của người sư nữ. Hai mươi năm qua, cô vẫn chưa đắc đạo. Cô thắc mắc, vì tự cho mình thông kinh kệ hơn người và chịu đủ mọi sự khổ hạnh của nhà chiền. Một ngày kia cô quyết định sang Tây trúc một phen để tìm cho ra lẽ. Đường sang Tây-trúc thiên nguy vạn hiểm nhưng cô quyết định đi cho bằng được.

Một hôm, sau khi vượt qua một trái núi, sư nữ tìm vào một ngôi nhà hẻo lánh dọc đường để nghỉ chân. Hai mẹ con chủ nhân tuy người rừng núi quê mùa nhưng vốn là kẻ ăn chay niệm Phật, nên thấy khách là nhà tu hành thì tiếp đãi rất hậu. Khi được nghe kể công trình tu luyện của sư nữ họ càng cung kính, coi như bậc thầy. Và khi biết rõ ý định của sư nữ thì họ cũng xin phép bỏ nhà bỏ cửa đi theo thầy để mong được đắc dạo. Nghe họ câu khẩn, sư nữ cười: – Hai mẹ con nhà này cũng muốn thành Phật ư? Được, cứ đi theo ta!. Nhưng bụng nàng bảo dạ: – “Chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre”.

Từ hôm đó nhà sư có thêm hai người bạn đồng hành. Chân bớt mỏi, đường bớt dài, họ đi chả mấy chốc đã tới đất Thánh. Từ trước đến sau, hai mẹ con nhà nọ vẫn cung kính, coi sư nữ như thầy. Còn sư nữ đối với họ không được như trước: – Không biết chừng họ được thành Phật trước ta. Họ sẽ hơn ta… Bọn này mà đắc đạo, thật là một điều nhục cho Thiền môn.

Nói chuyện đức Phật khi vừa nghe tin có người tìm đường đến Tây-trúc cầu đạo, vội hóa thân đi theo dõi. Từ đầu đến cuối, đức Phật vẫn không bỏ sót một lời nói, một cử chỉ nào của sư nữ. Khi họ sắp qua một con sông rộng, đức Phật hóa phép hiện ra ở bên kia bờ một tòa cổ tự, trước cửa có một cây bồ đề rất lớn, để chờ họ.

Muốn cho hai mẹ con khỏi lẽo đẽo theo mình đến đất Thánh, nên khi qua sông sư nữ giả cách ngạc nhiên, chỉ ngôi chùa và ngôi đền mà bảo rằng:

– Kìa, chúng ta đã tới Tây trúc. Chóng thật! Chính là cây bồ đề của đức Thế Tôn tu luyện ngày xưa. Thôi! Hai mẹ con cứ việc trèo lên một cành cao niệm kinh rồi buông tay rơi xuống là tức khắc thành Phật!.

Tin tưởng ở lời nói của bậc thầy, hai mẹ con mừng rỡ làm theo không chút ngần ngại. Nhưng khi họ buông tay cho người rơi xuống thì đức Phật đã đón họ đưa lên trời. Có bốn vị La hán mang tòa sen đến rước đi. Tay hai mẹ con vẫy vẫy như có ý gọi người bạn đồng hành.

– “Đúng là họ thành Phật rồi!. Sư nữ vừa kinh ngạc vừa mừng, vội trèo lên cây để làm như họ và để mong được như họ. Nhưng đức Phật đã có ý trừng phạt người đàn bà kiêu ngạo và độc ác ấy một cách đích đáng, nên đã để cho cái xác rơi phịch xuống đất, tan xương vỡ sọ. Và sau đó đức Phật lại bắt con người khốn nạn ấy hóa thành bình vôi. Tại sao lại cho hóa thành bình vôi? Có người bảo chính là đức Phật muốn bắt những kẻ trong lòng bất nhân, nhưng lại đeo bộ dạng từ bi, phải để cho người đời luôn luôn móc ruột.

Một truyện khác nhiều tính chất phật thoại cũng nói về sự tích ông bình vôi:

Có một anh ăn trộm từng sống bao nhiêu năm với nghề. Hắn ta không vợ con gia sản, chỉ độc có một túp lều bên cạnh đường cái. Một hôm, có cặp vợ chồng người ăn mày qua đó xin trú chân. Hắn cho họ ở lại và sau đó hắn thấy chồng bảo vợ: – “Hôm nay không xin được tí gì cả. Gần đây có một nương khoai, chờ đến tối tôi sẽ đào trộm về ăn”. Vợ can chồng: – “Thôi đi ông! Chỉ vì kiếp trước chúng ta ăn ở thất đức nên mới như thế này. Có lẽ nào phạm thêm vào cho nặng tội kiếp sau. Tôi thà chết không ăn trộm!”.

Người ăn trộm nghe chuyện bỗng dưng hối hận. Cuối cùng hắn giao tất cả nhà cửa cho hai vợ chồng người ăn mày rồi bỏ di. Hắn tìm đến một ngôi chùa trên núi cao xin hòa thượng cho cạo đầu tu hành. Người ta giao cho hắn công việc nấu ăn: một bữa phải nấu từ tinh sương và một bữa từ chiều. Phận sự của hắn là giữ lửa không được để tắt, vì một lần tắt lửa thì lại phải xuống núi xin về, cách xa hàng bao nhiêu dặm.

Từ lúc nhận việc nhà chùa, hắn tỏ ra chu đáo lạ thường, chưa có bữa nào để lửa tắt. Một sư bác trên chùa ghét chú tiểu mới, bèn chờ một hôm tiểu ta ngủ say, tưới tắt lửa nhấm ở bếp.

Gần sáng, chú tiểu dậy thấy không còn lửa, nghĩ đến phận sự, vội vã ba chân bốn cẳng vượt mấy khu rừng tìm xuống làng xin lửa. Giữa đường hắn gặp một con cọp già đòi ăn thịt. – “Tôi vui lòng để ngài xơi thịt – hắn nói – nhưng hãy cho tôi chạy xuống làng xin lửa cho nhà chùa, rồi tôi sẽ tới nộp mạng”.

Cọp bằng lòng để cho đi. Khi đưa được lửa về, hắn kể sự tình và xin phép hòa thượng cho đi nộp mình cho cọp. Đến nơi, cọp bảo: – “Tao già rồi, răng đã rụng hết mà xương của mày cứng khó nhai. Vậy mày hãy trèo lên cây kia buông mình rơi xuống cho gẫy xương, tao mới ăn được”. Hắn vâng lời cọp, nhưng khi buông tay thì đức Phật đã đón sẵn rước lên trời, độ cho thành Phật, tức là Phật Nhiên Đăng.

Vị sư bác kia thấy chú tiểu chỉ bằng vài hành động đơn giản mà được  thành chính quả thì cũng muốn được như thế. Hắn bèn xin phép hòa thượng cho mình ra đương việc nấu ăn và giữ lửa. Thế rồi một hôm hắn cũng giả tảng để cho lửa tắt, rồi cũng chạy xuống núi xin lửa. Và hắn cũng gặp cọp, cũng khất cọp xin đưa lửa về cho nhà chùa dùng rồi sau đó sẽ xin nộp mình. Nhưng đức Phật vốn hiểu rõ những việc làm của hắn xuất phát từ tấm lòng không thực, nên khi hắn trèo lên cây và buông tay, thì Phật lập tức bắt hắn hoá thành bình vôi.

Một dị bản của truyện trên cũng là một phật thoại, là Sự tích cái ống nhổ.

Ở đây cũng có hai nhân vật chính là chú tiểu và sư bác. Chú tiểu mới đi tu nhưng rất chăm chỉ, biết lo lắng làm tròn chức trách. Thấy lửa ở đống nhấm tắt (kỳ thực là do sư bác ghen tỵ phun nước cho tắt), tiểu không nề hiểm nguy chạy xuống núi vào lúc mờ sáng để có lửa về kịp nấu ăn cho nhà chùa. Phật hiện ra với trạng mạo một ông già khuyên can chú tiểu đừng đi, nhưng thấy chú cương quyết đi, bèn bảo chú trèo lên cây buông tay xuống, sẽ có kẻ đưa đi an toàn. Quả nhiên chú tiểu buông tay rơi đúng trên lưng một con muông; nó đưa chú xuống làng, rồi sau khi xin được lửa lại đưa về vô sự.

Sư bác vốn không phải là chân tu, nhưng thấy chú tiểu gặp Phật, cũng muốn được như vậy, bèn cũng xin ra làm công việc nấu ăn và giữ lửa, sau đó hắn đã để tắt lửa và cũng được gặp Phật. Nhưng khi buông tay thì Phật đã bắt hắn hoá thành cái ống nhổ, miệng luôn luôn há ra cho người ta khạc nhổ vào, để tỏ lòng khinh bỉ.

Chúc bạn vui vẻ
Chi tiết

Truyện ngụ ngôn Bài học đầu tiên của Gấu con

Ngày chủ nhật Gấu con xin phép mẹ ra đường chơi cùng các bạn. Gấu mẹ dặn:

– Con chơi ngoan nhé. Nếu làm sai điều gì, con phải xin lỗi. Được ai giúp đỡ thì con phải cảm ơn.

Gấu con tung tăng chạy nhảy và mải lắng nghe chim Sơn Ca hót nên va phải bạn Sóc khiến giỏ nấm văng tung toé ra đất. Gấu con vội vàng khoanh tay và lễ phép nói:

– Cảm ơn bạn Sóc!

Nói xong Gấu con cúi xuống nhặt nấm bỏ vào giỏ giúp Sóc. Sóc ngạc nhiên nói:

– Sao Gấu con lại cảm ơn, phải nói xin lỗi chứ!

Mải nhìn Khỉ mẹ ngồi chải lông cho Khỉ con nên Gấu con bị trượt chân, rơi xuống hố sâu. Gấu con sợ quá kêu thất thanh:

– Cứu tôi với! Ai cứu tôi !!!

Bác Voi ở đâu đi tới liền đưa vòi xuống hố và nhấc bổng Gấu con lên mặt đất. Gấu con luôn miệng:

– Cháu xin lỗi bác Voi, Cháu xin lỗi bác Voi!

Bác Voi cũng rất ngạc nhiên liền nói:

– Sao Gấu con lại xin lỗi, phải nói cảm ơn chứ!

Về nhà, Gấu con kể lại chuyện cho mẹ nghe. Gấu mẹ ôn tồn giảng giải:

– Con nói như vậy là sai rồi. Khi làm đổ nấm của bạn Sóc, con phải xin lỗi. Còn khi bác Voi cứu con ra khỏi hố sâu, con phải cảm ơn.

– Con nhớ rồi ạ! – Gấu con vui vẻ nói.
Chi tiết

Truyện dân gian Đám cưới chuột

Đây là một chú chuột nhắt. Một chú Chuột Nhắt còn trẻ. Tuy vậy, cứ thực sự thì diện mạo của chú cũng chẳng có vẻ mĩ miều gì mấy. Đó là tôi còn nể Chuột Nhắt mà giới thiệu với bạn đọc thế, chứ thẳng thừng ra nhiều họ Chuột khác thường thốt ra những giọng có ý khinh bỉ cười cợt Chuột Nhắt lắm.

– Nó bẩn như cú
– Ở cổ nó có ba cái sẹo to.
– Thằng cha thưa râu ghê! Mà cái râu nào cũng gãy nửa, tại sao nhỉ?
– Đuôi nó chỉ cụt một mẩu!
– Thưa ngài, tính thằng cha Chuột Nhắt gian. Cứ trông cái mắt lấm lét của nó thì đủ hiểu.
– Lại còn phải nói!
– Đấy con ơi! Thiên hạ người ta phẩm bình thế đấy, ra đường đừng có chơi bời gì với Chuột Nhắt. Thấy nó đâu thì tránh xa ra nhé.

Nhưng mồm miệng thiên hạ dông dài, thì chẳng đủ tin. Bởi vì, trong đời, có những cái miệng xấu, miệng tốt, miệng nói hay, miệng nói dở. Nhiều thứ miệng lắm và tạp nham lắm. Đừng ai vội ghét Chuột Nhắt. Đừng ai nói xấu thêm cho chú ta. Mà cũng đừng bà chuột mẹ nào cấm con cái chơi với Chuột Nhắt vội. Phải xét tận nơi, nhìn tận mặt mới nên buông lời. Một lời vô ý, trong lúc vui miệng bông lơn, có khi làm hại cho kẻ khác nhiều, lời nói đọi máu mà. Bởi vậy, chẳng nên hấp tấp mà bỉ mặt chú Chuột Nhắt, theo những lời chê bai trên kia. Vậy thì chú Chuột Nhắt có xấu người, xấu nết như lời đồn đại chăng?

Cứ sự thực, dưới mắt hàng xóm, và dưới cả mắt tôi nữa, mặt mũi chú ta cũng không đáng diện với ai mấy. Cái thân mình chú dài không được bằng một ngón tay. Bốn chân như bốn cái tăm lũn cũn. Chiếc mõm nhọn hoắt, hai hàng râu cứng tủa sang hai bên. Đôi mắt chú nhỏ, nhưng lồi ra. Hấp háy, chớp chớp, nháy lia nháy lịa. Bởi vậy, người ta đổ cho chú có tính gian. Nhưng thực oan uổng cho Chuột Nhắt. Chú không có những cái tật xấu bị gán vu vơ. Chú vốn xấu mã, thì thiên hạ lại cho luôn là chú xấu cả nết nữa. Bậy quá! Chú cũng không xấu nết. Bởi vì chú đương là một anh học trò. Một học trò thì không bao giờ được có một vết xấu. Chú Chuột Nhắt cũng biết ăn lời thầy học. Có thể nói rằng: chú là một học trò tốt. Từ khi mới lọt lòng, Thử ông và Thử bà chỉ để Chuột Nhắt ở nhà có ít lâu, rồi ông bà gửi chú đi trọ học ở miền xa, cách nhà những vài ba cánh đồng lớn.

Quả cau nho nhỏ
Cái vỏ vân vân
Nay anh học gần,
Mai anh học xa

Chuột Nhắt chịu khó học hành lắm. Âu cũng là một tính chăm học tự nhiên. Bởi vì bé thì bao giờ cũng phải học, việc học cần như Chuột cần phải ăn thóc vậy. Chuột Nhắt ta đã ăn và học ngay tại nhà thầy đồ. Hết lớp nọ lên lớp kia. Chú cố công dùi mài. Bởi vì chỉ còn ngót một năm nữa thì chú đã phải đi thi. Ở quê nhà, vợ chồng ông Thử khấp khởi mừng thầm.

Quả cau nho nhỏ
Cái vỏ vân vân
Nay anh học gần,
Mai anh học xa
Tiền gạo thì của mẹ cha…

Tiền gạo thì của mẹ cha tải đi cho con ăn, con học. Bao nhiêu là công lao! Chuột Nhắt nhấm một hạt thóc, nhớ đến nỗi khó nhọc của bố mẹ cần cù chạy kiếm từng hạt thóc vàng rụng trong mùa đông cóng lạnh, chú càng chăm chỉ sách đèn. Thấm thoát chẳng bao lâu đã tới khoa thi ấy. Hơn ba trăm học trò của các tỉnh trong xứ về thi. Hơn ba trăm sĩ tử trải qua một vòng loại, giẫm vỏ chuối mất quá nửa, cũng là học tài thi phận. Tới ngày yết bảng, thế mà tên chú Chuột Nhắt đứng vào hàng thứ ba. Tiếng đồn Chuột Nhắt thần động vang dậy từ cánh đồng này qua cánh đồng khác. Ai cũng trầm trồ khen ngợi. Và, chao ôi, nhiều kẻ ngày trước dè bỉu, nói xấu, bây giờ lại lật lưỡi tâng bốc, lại lấy Chuột Nhắt ra làm gương cho con cái trong nhà.

– Trông Chuột Nhắt mới nho nhã làm sao
– Chú Chuột Nhắt học giỏi, mặt mũi thật sáng sủa.
– Râu chú ấy dài, đôi mắt tinh anh, vẻ thông minh lạ.
– Thưa ngài, tính nết của chú Chuột Nhắt tốt. Cứ nhìn nét mặt hiền từ nho nhã của chú Chuột Nhắt ấy thì đủ hiểu.
– Lại còn phải nói! Lanh lợi nhất trần gian này là chú Chuột Nhắt.
– Đấy con ơi! Liệu làm sao mà bắt chước. Nên tìm những bạn tốt như Chuột Nhắt mà chơi.

Thôi thì, ai cũng khen Chuột Nhắt đủ điều. Ở quê nhà, nghe tin con thi đỗ, Thử ông và Thử bà sướng phổng lỗ mũi. Hàng xóm kéo đến hỏi thăm rộn rịp đầy hang. Bắt đầu, những người hay nịnh, đã gọi Thử ông, Thử bà là “hai cụ cố sinh ra cậu cử tân khoa”. Thử ông hếch râu, nghiêng cái tai nhọn nghe khoái lỗ nhĩ lắm. Họ tán tụng:

– Thưa hai cố, nhờ cậu cử mà làng xóm ta từ nay nên danh diện!
– Cả vùng này chứ lị! Bác thử xem vùng ta, xưa nay đã ai đi học mà đỗ cao được bằng cậu cử nhà hai cụ cố đây chưa?
– Vẻ vang lắm!
– Nên mở một bữa khao thật to!
– Bác nói sai rồi! Phải vinh quy bái tổ rồi mới khao vọng chứ. Xóm làng ta đây, từ thuở khai thiên lập địa đến nay, giờ mới được một chuyện danh tiếng lẫy lừng. Sao lại không làm cho thiên hạ rõ mặt tường tên?
– Bác bàn phải quá. Bẩm hai cụ cố, cho thiên hạ trông vào.
– Công trời bể hai cố to lắm.
Thử ông lim dim đôi mắt, gật gù:
– Phải, phải. Thế nào cũng rước vinh quy cho cậu cử nó. Nên lắm !
Bà mủm mỉm đáp:
– Phải, nên lắm.
Mọi người đồng thanh:
– Nên lắm!
– Nên lắm!
Thế là Thử ông và Thử bà quyết định lo đám rước vinh quy cậu cử Chuột Nhắt. Ông bà cho tin sang bên kia cánh đồng rằng cậu cử cứ hãy hoãn ngày về. Đợi để dân làng sang đón rước cho tỏ mặt với đời. Được tin ấy, Chuột Nhắt ta mừng hí hửng. Chú mừng và sướng chẳng khác lúc đứng nghe gọi loa xướng danh đến tên mình trúng tuyển. Nghe tin cha mẹ sẽ cho dân làng sang rước mình về, trong đầu Chuột Nhắt đã tưởng tượng ngay đến cái kiệu sơn son thếp vàng rực rỡ, mấy tay đô tuỳ xúm xít khiêng tân khoa. Chuột Nhắt ngồi bệ vệ, hai chân trước vắt xuống đùi gối hai chân sau, mắt làm vẻ nghiêm nhưng thực ra thì nhìn ngang nhìn dọc. Bên vệ lối đi, biết bao nhiêu bà con đứng xem, đứng đón. Tưng bừng quá! Chú Chuột Nhắt liền sắm sửa quần áo hòm xiểng nhong nhóng đợi ngày cha mẹ và làng xóm rước về.

Bấy giờ, có một lão mèo đương xưng hùng xưng bá ở đất này. Các lão Mèo ở nơi nào cũng thế, đi đến đâu là sinh ra lắm chuyện rắc rối đến đấy. Lí lịch gốc gác của lão Mèo ra sao không mấy ai rõ. Chỉ nghe truyền khẩu lờ mờ rằng xưa kia Mèo vốn được nuôi nấng ở trong nhà, chung đụng với bọn Chó Đen, Chó Vàng. Nhưng vì Mèo vốn tính khoảnh ác, chơi với ai cũng giở thói phản bạn nên ai cũng ghét. Đến khi tất cả xung quanh, từ người chủ nhà trở xuống cho đến thằng chó con mới mở mắt ai cũng ghét và xa lánh thì biết mình khó lòng còn ở lại trong nhà được nữa, Mèo ra đồng ở, thành Mèo hoang. Người ta hay nói Mèo già hoá Cáo là như vậy. Mèo ở nhà, tìm đến cánh đồng họ nhà Chuột. Chuột sợ Mèo, là một sự dĩ nhiên. Nhưng thường cũng có thứ Mèo lành hiền. Riêng lão Mèo này thì ác quá. Càng bắt nạt được ai, lão càng bóp cổ tợn… Ai ai cũng oán ghét. Ai cũng đem lòng thù. Mèo cũng biết, song lão thấy người ta tức, lão càng hoạnh hoẹ làm ác tợn. Có những ông đồ Chuột thâm nho đã đặt ra những câu hát châm chọc, cho trẻ hát để trêu tức lão:

Con Mèo mày trèo cây cau

Hỏi thăm chú Chuột đi đâu vắng nhà

Chú Chuột đi chợ đồng xa

Mua mắm mua muối giỗ cha cái thằng Mèo!

Mèo thường nghe tiếng hát văng vẳng trong những bờ cây khuất nẻo. Song lão không biết đích xác được ở đâu. Lão chỉ hầm hè ngồi gầm gừ suông. Khi lão Mèo hung tợn kia nghe tin vợ chồng Thử ông sắp rước vinh quy cho con trai thì lão khấp khởi mừng thầm. Lão chắc mẩm sắp được một món bổng to. Thế nào nhà Chuột chẳng phải lễ lạt đút lót hậu hĩnh. Không có thì lão sẽ phá. Lão Mèo xăm xăm đi đến cửa hang nhà Chuột. Bấy giờ trong hang, cả nhà Chuột đang ăn uống và om sòm, bàn bạc định ngày sang rước cậu cử Chuột Nhắt. Mèo ta cất giọng “meo” lên một tiếng rõ to như tiếng tù và rúc. Trong suốt hang im thin thít ngay. Rồi thì mấy cái râu, cái lỗ mũi thò ra, lại thụt vào ngay. Mèo quát:

– Có đứa nào trong nhà không?

Một tiếng run run đáp:

– Thưa có.

Thử ông mon men ra đứng nép vào khe cửa hang, nói vọng ra:

– Ngài hỏi chúng tôi có việc chi?

Mèo trừng mắt:

– Lại còn việc gì nữa? Việc gì thì cả tổ bay đã biết đấy!

– Bẩm không biết ạ!

– Không à? Ông lại phá cả nhà bây giờ. Muốn bị cắt lưỡi, phỏng?

– À, biết rồi, tôi cho cháu nó về bái tổ. Tôi bảo để đến chiều sẽ sang báo tin mừng với ngài.

– Đủ cả đấy chứ?

– Vâng, báo tin và xin biện đủ. Rước ngài cứ về, chốc nữa chúng tôi sang.

Chiều hôm ấy, nhà Chuột đem lễ vật thịnh soạn sang dâng ông Mèo. Có thế ông mới để cho đám rước được yên ổn. Đám đi dâng lễ ông Mèo cũng trịnh trọng như một đám rước, có tranh vẽ để lại đời sau ai cũng biết đấy. Một anh Chuột đi đầu, thổi kèn. Một anh đeo cái trống cà rùng. Vừa bước đi, chốc chốc lại múa hai tay lên mà gõ trống nhịp nhàng. Một anh nữa xách khệ nệ hai con cá săn sắt lớn (mà người xem tranh nhầm là cá chép). Rồi mới đến một ông đứng tuổi, ria mép dài ngạnh trê, mặc áo the thâm, quần lụa điều đi sau cùng. Cái đám rước ấy vào đến hang Mèo thì lão này đương khề khà uống rượu. Lão nhận hai con cá săn sắt và nhắm luôn. Lũ Chuột cúi rạp, cúp cả tai xuống mà lạy tạ rồi lui ra ngay. Ra tới cửa, anh nào anh nấy ba chân bốn cẳng chạy mau như sợ lão Mèo đuổi theo, chộp lấy, chén thịt. Thế là xong việc dâng đồ lễ ông Mèo. Một ngày tốt lành kia, cả tổng Chuột nhộn lên vì sự tấp nập đi rước cậu cử tân khoa Chuột Nhắt. Đã quá trưa thì đám rước về tới đầu cánh đồng. Trước hết, một chú Chuột mặc áo nẹp đỏ thổi loa te te. Đến hai lá cờ kì lớn, trên lá cờ nào cũng viết hai chữ “Thái Bình”. Mấy cái biển sơn son thếp vàng, vác ngổn ngang. Những chữ “Vinh Quy” vàng chói khắc lên gỗ. Lại có hai chú Chuột khiêng một chiếc trống cái. Trống nặng quá, to phè phè, mỗi khi anh Chuột đi bên cạnh múa chiếc dùi lên, nện xuống một dùi, hai chú Chuột phu khiêng lại loạng choạng hai chân chực ngã xiêu đi. Tất cả đám rước, Chuột nào cũng mặc áo the thâm, thắt lưng điều bỏ giọt, chân đi đất, mặc quần lụa nâu. Anh nào cũng chít khăn kín cái đầu dài ngoẵng, lòi đôi tai lên trên. Có anh trai kiểu chơi chua, lại đội vênh vang chiếc nón dứa mới. Trong cái mõm nhọn, chuột chúm chím nhai trầu. Chấm hết cho đám rước, một lũ chừng mười lăm phu chuột xúm xít khiêng một cái kiệu. Ở trong kiệu, chú tân khoa Chuột Nhắt ngồi chõm choẹ. Cái điệu chú oai ghê. Đầu chú đội chiếc mũ xanh, có hai cánh chuồn. Mình chú mặc áo thụng lam. Chú ngồi vắt chân chữ ngũ. Một tay cầm cái quạt tàu phe phẩy. Một tay cầm điếu thuốc lá quấn. Chốc chốc, lại đưa lên miệng, hút phập phèo. Đôi mắt chú lúng liếng liếc sang hai bên đường, ra vẻ ta đây. Mà hai bên đường thì chật ních những họ hàng nhà Chuột đứng xem.

– Te te te… Ai đi đường thì tránh ra cho quan cử vinh quy bái tổ…

– Tùng… Bi li… Bi li… Tùng…

Đám rước trịnh trọng, trang nghiêm. Mỗi bước dịch về gần trong xóm lại đi chậm thêm và làng xóm ở các hang ổ xa càng đổ đông ra xem. Đông quá. Thật lòng chú Chuột Nhắt chỉ thích được như vậy. Lát nữa, về đến đầu xóm, thể nào cũng có hương án bày bái vọng và tất nhiên là Thử ông và Thử bà đã đi võng ra đón con. Chú Chuột Nhắt thầm cảm ơn trời đã có một ngày nắng ráo và mát mẻ quá như hôm nay. Ai cũng lũ lượt kéo đi xem đám vinh quy của quan cử tân khoa. Đám rước trịnh trọng,trang nghiêm.

Qua gần hết cánh đồng. Bỗng văng vẳng có tiếng ầm ĩ từ xa đi tới. Vang như tiếng trống, tiếng cồng, tiếng sấm. Nhưng lạ tai quá:

– Meo! Meo! Meo!

Ôi chao! Tiếng lão Mèo quát. Những đám đông đứng xem, rú lên chạy tán loạn.

– Meo! Meo! Meo!

Anh vác loa cút trước nhất. Mấy thằng cầm cờ cũng quẳng cờ mà chạy. Và có mấy tên rước biển “Vinh Quy” đều ù té chuồn. Chỉ có anh đánh trống thì vẫn mải mê đánh trống thòm thòm, không ngẩng đầu lên, cũng không nghe thấy gì.

– Meo! Meo! Meo!

Đến bấy giờ bọn đánh trống mới nghe thấy những tiếng khủng khiếp rền tai. Anh nào anh nấy ba chân bốn cẳng, hoảng hốt chạy thẳng một mạch. Và cái bọn khiêng kiệu cũng không còn hồn vía nào đứng lại nữa. Những tiếng quái ác ghê gớm kia là tiếng báo hiệu Thần Chết đương đi đến đây rồi. Thần Chết đã tới sau lưng. Ai mà còn hồn vía nào! Chúng buông phịch kiệu xuống, rùng rùng đi tìm hang lỗ trú ẩn. Chiếc kiệu bị buông mạnh, lật nghiêng và đổ khuỵu. Chú Chuột Nhắt đương đắc chí rung đùi, bị ngã chổng vó, không dậy được. Tất cả đám rước linh đình, trong phút chốc tan biến, không còn bóng vía gã Chuột nào. Bấy giờ người ta mới thấy lão Mèo lù lù từ phía Tây đi đến. Lão vừa đi lừ lừ, vừa kêu: “Meo! Meo!”. Thực vô tình mà lão cất tiếng ông ổng. Và đấy là lão hát chứ không phải lão kêu, lão hò hét chửi bới. Phải, vừa uống rượu xong, vui thì lão hát chơi. Lão cũng định ra xem đám rước vinh quy, nên lão vui trong bụng lão hát lên mấy câu cho vui đấy thôi.

– Meo! Meo! Meo!

Lão hát thế thì chết! Có ai, có chú chuột nào lại hiểu được rằng “meo, meo, meo” là một điệu hát bình thường của lão Mèo. Những con chuột chỉ nghĩ rằng Mèo đương đói, đương gào thịt ăn. Đám rước mới tan tác mất. Khi lão Mèo ra tới đường cái, thấy đường cái vắng tanh, chẳng còn một bóng chuột nào. Cờ quạt ngổn ngang, lổng chổng. Lão ngạc nhiên nói một mình:

– Quái, ta có làm gì đứa nào đâu, mà chúng nó sợ?

Lão lại hát “meo, meo”. Lão không biết rằng hò bổng lên như thế mà nhà Chuột đã đủ khiếp mà chạy xa thêm. Tức mình lão bần thần bỏ đi ra chơi mát ngoài đồng. Mãi cho đến xế trưa, mới có mấy anh Chuột mon men, nhớn nhác, từ trong xóm bò ra. Rồi thì một đám nữa nối đuôi nhau đi đến. Và họ hàng lại lặng lẽ rồi rộn ràng đi làm đám rước. Ai vào việc nấy Lại loa. Lại cờ. Lại biển. Lại trống cái và trống cà rùng. Nhưng đến khi xúm vào dựng kiệu lên thì thấy cậu cử tân khoa méo mó, nhăn nhó mặt mõm, cho đến lúc ấy vẫn không thể ngồi dậy được. Bởi vì lúc cái kiệu đổ, chú sái một khớp xương chân, ngoẹo hẳn đi, không thể ngồi và đi được. Đám rước, thế là chú đành nằm trong kiệu cho khiêng về nhà. Mất vui. Chẳng ai đi xem, và giá có đi xem, cũng chẳng nhìn thấy cậu cử tân khoa đâu nữa. Cậu cử tân khoa đau quá, không ngồi được, đã nằm phủ phục xuống sàn kiệu. Cái mộng được đi diễu qua làng xóm cho thiên hạ biết mặt tân khoa chú Chuột Nhắt bị sụp vỡ. Chỉ vì mấy tiếng hát vu vơ của lão Mèo phởn chí. Thử ông và Thử bà cũng cụt mất hứng. Nhưng dẫu sao, cũng là xong cuộc rước vinh quy Chuột Nhắt. Thử ông Thử bà dần dần cũng lấy lại hả hê, mà chẳng dám oán trách ông Mèo. Bởi oán ông thì chỉ thiệt thân mà thôi! Chỉ hận một nỗi từ ngày ấy, cái chân sai khớp của cậu Chuột Nhắt, chữa thế nào cũng không khỏi. Chuột Nhắt thành tật, một chân sau bước thậm thọt. Thử ông sợ cái tiếng con mình thọt chân, nên đút tiền cho những đứa khênh kiệu hôm vinh quy để chúng khỏi đi nói cho ai biết.

Ông bà Thử có ý muốn giấu giếm cho con mình cái tật nọ. Là vì ông bà nghĩ: Chuột Nhắt đã lớn. Học đã thành tài. Nhưng còn thiếu một chút vợ con trong nhà. Cưới vợ cho chú ấy là mãn nguyện hai vợ chồng già. Nhà con một, lại khá giả, tất nhiên đường vợ con phải kén chọn kĩ. Những cô Chuột Nhắt loàng xoàng thì không có thể đáng mặt lấy về cho chú cử Chuột này được. Ông bà Thử băn khoăn về chỗ đó. Đại đăng khoa rồi tiểu đăng khoa thì vừa. Vả lại, họ hàng bà con cũng thúc giục ông nên lấy vợ cho cậu Chuột Nhắt. Đó là những mồm miệng quanh năm chỉ hong hóng muốn ăn cỗ. Được ăn cỗ là họ thích. Họ cứ xúi khôn xui khéo ông bà Thử:

– Hai cố xem có đám nào kén về cho cậu cử!

– Có vợ con thì mới chững chạc được!

– Hai cố xem mặt cái đám xóm kia, có ưng không?

– Không được, đám ấy đăng đối sao được với nhà này! Thuở ấy, một ông viên ngoại nhà ở hang ngoài bờ sông, có cô con gái kén chồng. Cô gái treo biển kén chồng đã hơn một năm nay. Cũng đã nhiều vương tôn công tử rắp ranh bắn sẻ, nhưng chưa ai được trúng cách. Bởi vì ông viên ngoại là một tay thâm nho. Và cô tiểu thư là một thiếu nữ có đôi chút nhan sắc, xa gần nức tiếng. Đó là cô tiểu thư Chuột Chù. Tiểu thư Chuột Chù đẹp – cô tự nghĩ thế. Lại càng làm dáng tợn. Bước đi yểu điệu. Mõm to và dài. Áo cô đen xù lúc nào cũng thơm lừng mùi nước hoa. Nhưng thiên hạ độc miệng lại đặt cho câu tục ngữ ác nghiệt: Hôi như chuột chù. Thoạt gặp, cứ tưởng rằng cô tốt nết. Nhưng thực cô có một tính xấu. Tính cô khinh khỉnh. Từ khi ông viên ngoại yết bảng ra cửa, đề bài thơ rằng: “Nhà ta có gái kén chồng. Xuân xanh xấp xỉ độ chừng đôi mươi” thì hai bố con ông đã làm bẽ mặt nhiều gã chuột đến dạm hỏi lắm. Thực ra, trong đám đó cũng nhiều người vô tài. Song, cậy mình có tài mà làm xấu hổ kẻ khác thì cũng chẳng nên.

Một hôm kia, Thử ông gọi Chuột Nhắt đến mà bảo rằng:

– Con ơi! Con đã lớn. Học con đã thành danh, không kém cạnh gì ở đời. Nay cha chỉ còn mong muốn lo vợ cho con. Con bằng lòng chăng?

Chuột Nhắt thích tê người, nhưng còn làm bộ lưỡng lự:

– Cái đó tuỳ cha.

– Cha đã nghĩ kĩ. Cứ xem như quanh vùng này thì không có mặt nào đáng. Cha thấy có tiếng đồn ở bên sông có ông viên ngoại kén chồng cho con gái. Để mai cha thử sang chơi.

Chuột Nhắt cười:

– Thưa cha, con đã nói tuỳ ở ý cha mà.

Biết thế là con đã bằng lòng, hôm sau, Thử ông ăn diện tề chỉnh, diện giày gia định và cầm cả ô che nắng, đi sang nhà viên ngoại nọ. Đến chiều, ông trở về. Hơi rượu sực nức. Ông viên ngoại đã thết ông cơm rượu linh đình. Ông Thử kể chuyện cho con trai và Thử bà nghe:

– Ta nói đến con thì viên ngoại bằng lòng lắm, viên ngoại đã biết tiếng. Nhưng ông ấy muốn mời con sang chơi để ông được thử tài.

– Ngày mai con sang.

Ngày mai, Chuột Nhắt sang chơi nhà viên ngoại. Chú đi cùng với hai tiểu đồng Chuột. Đêm hôm qua, đã giở bao nhiêu pho sách để xem lại. Nhưng có điều rắc rối là chẳng hay Chuột Nhắt sẽ đi đứng thế nào. Bởi vì một chân sau của chú bị khập khiễng. Không hề chi. Chuột Nhắt sẽ cưỡi một con ngựa bạch. Quần lụa điều sẽ buông xuống lấp kín gót chân. Lúc xuống ngựa, hai tiểu đồng xách nách hai bên, ra lối kiểu cách đại công tử của những nhà phú gia. Chẳng ai có thể biết được công tử Chuột Nhắt thọt hay không thọt. Chuột Nhắt sang đến nơi, viên ngoại tiếp đón niềm nở lắm. Tiểu thư Chuột Chù nhòm trong rèm ra cũng lấy làm vừa lòng. Rồi viên ngoại ra cho Chuột Nhắt một câu đố. Đó, là cái lệ chung cho tất cả những ai ngấp nghé đến làm rể nhà ông viên ngoại đã yết bảng kén chồng, là phải giải được một câu đố. Mỗi người một câu khác nhau. Câu đố ông viên ngoại ra cho Chuột Nhắt rằng:

Mặt em phương trượng chữ điền

Da em thì trắng, áo đen mặc ngoài

Lòng em có đất có trời

Có câu nhân nghĩa, có lời hiếu trung

Dù khi quân tử có dùng

Thì em sẽ ngỏ tấm lòng cho xem.

Viên ngoại hẹn cho Chuột Nhắt phải trả lời được trong vòng ba ngày. Ba ngày thì tìm ra lời giải. Chuột Nhắt lĩnh mệnh, biên câu đố lại, rồi từ tạ viên ngoại ra về. Ngựa mới thủng thỉnh về đến nửa đường, chú Chuột Nhắt vỗ trán có mấy cái, đã nẩy ra được câu lời giải. Chú vuốt ria, vừa đi vừa tủm tỉm cười. Về nhà, chú kể chuyện cho cha mẹ nghe. Thử ông vội hỏi:

– Thế con nghĩ ra câu trả lời chưa?

– Viên ngoại vừa nói xong con đã đoán ra được.

– Đoán được là gì?

– Là cái quyển sách, chứ lại còn cái gì nữa!

Thử ông ra vẻ nghĩ ngợi và gật gù khen là đúng. Ngày hôm sau, Chuột Nhắt đóng một quyển sách thật đẹp, bìa mo sơn then, trong viết cả một đoạn tam tự kinh, cho gửi sang nhà viên ngoại. Viên ngoại kinh ngạc và phục tài công tử Chuột Nhắt quá. Vì từ xưa tới nay, ông cũng đã ra nhiều câu đố, không những là ít ai đoán đúng, nhiều chàng trai không dám vác mõm trở lại nữa. Đằng này, Chuột Nhắt đoán chưa được một ngày đã ra. Quả là thần đồng! Tiểu thư Chuột Chù cũng tấm tắc khen: Tài, tài. Hai bố con liền cho tin sang bên nhà Thử ông để mời mối lái đến. Đôi bên nhà trai nhà gái đã định ngày làm lễ hỏi.

* * *

Nhưng câu chuyện không phải ổn thoả ở chỗ ấy. Một hôm, có một khách đến chơi nhà ông viên ngoại, nói rằng muốn ngỏ một câu chuyện cần. Viên ngoại mời vào, gã Chuột lạ ấy thi lễ rồi nói rằng:

– Tôi nghe đồn viên ngoại sắp gả chồng cho quý tiểu thư?

– Phải.

– Quý tiểu thư lấy thằng chồng thọt chân đấy.

Viên ngoại trợn mắt:

– Thế nào? Ai thọt chân? Bác nói sao?

– Tôi nói rằng viên ngoại sắp gả con cho một thằng thọt chân.

– Ai thọt chân? Công tử Chuột Nhắt chăng?

– Lại còn ai nữa!

– Bác kể đầu đuôi cho ta nghe.

– Tôi cũng chẳng rõ gia cảnh nhà ấy đâu… Tôi chỉ biết có mỗi một điều là công tử Chuột Nhắt thọt một bên chân trái.

– Tại sao bác biết?

– Ngày công tử Chuột Nhắt về vinh quy, tôi đi khiêng kiệu. Kiệu đổ. Lại chính tôi cõng công tử vào hang, vì công tử què chân, không đi được nữa. Về sau chữa chạy mãi không khỏi. Thử ông bịt tiếng, cho mỗi phu kiệu một ít tiền, để khỏi đi đưa chuyện.

– Thế ông ấy có cho tiền bác không?

– Không, ông ấy bỏ sót tôi.

Viên ngoại ngẫm nghĩ:

– Làm thế nào có thể tin được lời của bác?

Chàng kia cả cười:

– Có khó gì điều ấy. Viên ngoại cho mời công tử Chuột Nhắt đi bộ sang đây rồi lại mời ra chơi vườn hoa.

– Ngộ công tử từ chối?

– Thì cứ như là viên ngoại thách đố một lần nữa. Thách công tử Chuột Nhắt phải đi bộ sang bên này. Bấy giờ viên ngoại sẽ biết lời tôi đúng hay sai.

Viên ngoại bán tín bán nghi. Ông bàn với con gái. Hai cha con luận bàn với nhau một lúc lâu. Cuối cùng, ông viên ngoại nói rằng:

– Thì ta cứ thử như lời người kia nói. Nếu mà công tử Chuột Nhắt quả thật không có tật, nếu ta mời bó buộc như thế cũng chẳng hại gì.

Rồi ông viên ngoại đưa tin sang nhà Thử ông. Rằng sáng hôm mười tư, mời công tử sang dự cỗ. Nhưng muốn theo đúng nghi lễ con cái nếp nhà, công tử nên đi bộ sang. Hai cha con viên ngoại đợi ngày mười tư xem sao. Sáng hôm ấy, có tiểu đồng Chuột bên nhà Thử ông sang thưa:

– Bẩm, cậu con bữa nay hơi ấm mình, xin viên ngoại cho kiếu lỗi.

Viên ngoại vào nói với con gái:

– Con ơi! Có lẽ lời kẻ kia nói đúng. Nhưng ta phải thử một lần nữa.

Một lần, viên ngoại lại cho gia nhân sang mời công tử Chuột Nhắt đến ăn giỗ kị. Theo lễ, công tử cũng phải đi bộ, và viên ngoại quý rể còn cho gia nhân sang đón tận nơi . Chao ôi! Thực là khổ sở cho chú Chuột Nhắt. Chú biết làm sao bây giờ. Chân chú thọt mất một bên trái. Nếu không đi ngựa, không kẻ xốc nách, chú phải bước lò cò, tập tễnh. Cứ kể, nếu bò quãng ngắn quanh quẩn trong hang, chú chuột cũng có thể gắng sức bò cho chỉnh chện được. Nhưng đằng này, phải cuốc bộ từ đây ra ven sông qua mấy cánh đồng. Tự dưng lại giở cái trò quái độc này, chắc lão viên ngoại đã nghe phong thanh ai nói thế nào rồi đấy. Mồm miệng đồn thổi gớm thật! Cái gì đã xảy ra, cái gì có thể nói được là sự thực, tất chẳng thể giấu nổi ai. Biết làm thế nào? Bắt buộc Chuột Nhắt lại phải cho tiểu đồng sang nói dối một lần nữa:

– Thưa viên ngoại, công tử bị cảm chưa được mạnh, không dám ra ngoài.

Thế là viên ngoại có thể đoán biết rõ mười mươi căn bệnh của công tử Chuột Nhắt như thế nào rồi. Hôm sau, ông viết thư sang khước hôn cho con gái. Thử ông và Thử bà giận lắm. Công tử Chuột Nhắt thì thở dài thườn thượt và chốc chốc lại ngước mắt lên nhìn trời. Thực ra Chuột Nhắt nghĩ giận vô cùng. Chú thấy thế này là đời tráo trở quá, ăn ở không có trước sau. Chú nghĩ cách báo thù. Chú cũng nhỏ nhen lạ. Bởi chú chẳng nghĩ được rằng vì cái chân thọt của chú mà người ta không gả con cho chú. Chính chú định giấu giếm trước kia mà. Chú báo thù ông viên ngoại thế nào? Học trò chân yếu tay mềm, biết làm gì nên chuyện! Nhà ông viên ngoại có nhiều thế lực, không mỗi chốc cách nào mà chú dám bắt nạt. Thế mới khó. Nuốt hận thì căm. Mà để vậy thì xấu hổ. Chú nghĩ ba ngày ba đêm mà không vỡ ra được một kế gì. Người chú gầy tọp lại. Lông tóc chú rụng nhiều quá, hói cả đỉnh đầu, Sang đến ngày thứ tư, chú đương đứng bần thần ở cửa hang bỗng reo lên. Chú đã nghĩ được một kế. Diệu lắm. Chú sẽ làm một bài hát chế ông viên ngoại. Tài học của chú để đâu mà lại không có thể làm được một bài vè thực hay! Lập tức, chú thảo luôn. Chú làm một bài. Đầu đề là bài vè chế ông viên ngoại thách cưới cho cô Chuột Chù. Làm xong, Chuột Nhắt hắng giọng kể thử. Vè rằng:

Em là con gái nhà giàu

Cha em thách cưới ra màu xinh sao

Cưới em trăm tấm gấm đào

Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời

Nắp tròn dẫn đủ trăm đôi

Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng.

Sắm xe tứ mã mang sang

Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu

Ba trăm nón nghệ đội đầu

Mỗi người một cái quạt tàu cầm xinh

Anh về sắm nhiễu Nghi Đình

May chăn cho rộng, tối mình đắp chung

Cưới em chín chĩnh mật ong

Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò

Cưới em tám vạn trâu bò

Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm

Lá đa mặt nguyệt hôm rằm

Răng nanh thằng Cuội, râu cằm ông Thiên Lôi

Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi

Xin chàng chín chục con dơi goá chồng

Thách thế mới thoả trong lòng

Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân

Khi bài vè được chú Chuột Nhắt truyền ra, tất cả cánh đồng, có bao nhiêu làng xóm Chuột thì cả bấy nhiêu đều lập tức thuộc lòng như cháo. Ai cũng kể luôn miệng, ai cũng hát vung lên. Viên ngoại biết. Rồi tiểu thư Chuột chù cũng nghe Bố con chỉ còn tức mà nguyền rủa, không làm gì được.

 * * *

Đương khi ấy, lão Mèo lại đâm bổ vào câu chuyện. Lão đến đâu, là xổ ra nguồn gốc của những rắc rối không lường được. Có lẽ đó là một lão đói ăn. Hay là một ngày mưa chi đó. Trời mưa thì nhàn rỗi. Mà nhàn rỗi, thường nghĩ vẩn vơ, rồi đâm ra nghĩ và làm bậy bạ. Dường như trong một lát thong thả lão nhớ thèm những con cá săn sắt béo ngậy mà dạo nọ Thử ông, Thử bà đem biếu vào dịp Chuột Nhắt vinh quy. Lão nghĩ đến thì lão tưởng ngay tới sự đòi hỏi. Bởi vì ở đất này, lão là chúa. Lão là chúa thì lão chẳng còn biết sợ ai! Vả lại, lão vừa nghe thoáng thoáng mấy bữa nay, có đứa nào hát hỏng một câu gì có vẻ nói như là Chuột Nhắt sắp lấy vợ. Rất có thể, lão đến nhà Thử ông mà đòi ăn uống, nhà ấy đương có việc vui mừng. Lão đi lừ đừ bốn chân, lão gườm gườm đôi con mắt. Vừa tới cửa hang Thử ông, lão hét lên mấy tiếng thật to. Thử bà vừa thò đầu ra thì lão giơ chân chộp lấy. Lão chộp trúng lưng bà lão. Bà lão co người lại, ngã chúi vào trong hang. Mèo đắc chí lại gào lên mấy tiếng. Lão đứng chờ mãi mà cũng chẳng thấy ai ra nữa. Bực mình, lão cào cào tung toé đất lên rồi ngoe nguẩy đuôi lững thững đi. Chắc lão không tưởng rằng lão vừa gây ra một tai nạn cho gia đình Chuột Nhắt. Bởi vì bà lão ngã vào trong nhà thì ở mảng sống lưng rời ra một miếng thịt đỏ hỏn vì bị móng chân của Mèo cào. Thử bà ngất đi. Cả nhà lay gọi rối rít. Nhưng vì chuột bà gầy yếu quá, và bị vuốt chân ông Mèo móc vào lưng cũng khá sâu, đau quá không tỉnh lại nữa, cứ bằn bặt thiếp… rồi tắt thở. Cả nhà khóc lóc thảm thiết.

* * *

Từ đấy Chuột Nhắt càng để tâm thù cha con cô Chuột Chù tợn. Bởi vì chú Chuột Nhắt lại cho rằng chính lão viên ngoại nọ đã sinh sự gây ra cái chết thảm của mẹ chú. Ôi, bà mẹ hiền của chú chết ai oán quá. Chú cần phải báo thù. Thù này chẳng đội trời chung. Chú Chuột Nhắt cố lo báo thù. Có lẽ chú cũng chú ý tìm thầy học võ. Nhưng tìm không thấy chú lại đặt ra nhiều bài hát châm chọc nữa để bôi xấu cha con nhà lão viên ngoại. Nhưng xỏ xiên mãi cũng chán. Bởi vì lão cũng chẳng chết. Bố con lão vẫn sống nhăn răng. Một ngày kia, Chuột Nhắt nghe người ta đồn rằng ở bên kia cánh đồng có ông Chuột Cống là một tay lão luyện giang hồ. Ông ta có nghĩa khí, có chí làm việc lớn. Ông lại võ nghệ cao cường. Ông giao du với nhiều bè bạn bốn phương thiên hạ. Chuột Nhắt lần mò đến hang Chuột Cống xin vào yết kiến. Chuột Nhắt kể lể việc đau đớn nhà mình cho Chuột Cống nghe, rồi nghiến răng mà nói:

– Thưa ông, tôi thâm thù lão viên ngoại. Giá tôi có thể chết mà giết được lão, tôi cũng xin chết.

Chuột Cống ha hả, vỗ lên đầu Chuột Nhắt mà rằng:

– Khá khen cho anh. Anh còn trẻ mà có chí có gan, giỏi lắm. Nhưng tiếc thay, anh đã đem dùng nhầm cái tài của mình.

Chuột Nhắt hỏi lại:

– Ông bảo tôi phải làm thế nào mới đúng?

– Đầu tiên, anh vinh quy ỏm tỏi, đó là một sự huyênh hoang vô ích. Về sau, anh lại hí hửng muốn lấy vợ. Chao ôi! Làm như ở trên đời này, một thanh niên chưa có vợ, chẳng thể sống được hay sao? Phải lập thân trước đã chứ! Anh nên quên cái lão viên ngoại tráo trở, cái cô Chuột Chù đỏng đảnh kia đi. Đừng bao giờ nghĩ rằng họ đã làm hại nhà anh. Đã nghĩ thì phải suy lên tận ngọn. Anh phải tự hỏi anh rằng bởi đâu mà chân anh thọt, bởi đâu mà mẹ anh chết. Bởi đâu mà họ nhà Thử chúng ta phải khổ sở đến thế này? Chỉ bởi tại thằng Mèo. Phải đánh đổ cho kì được thằng Mèo. Nếu nó chết chúng ta sẽ được sống yên lành trong hang, ngoài bờ cỏ, ngoài ruộng lúa. Chính tôi đương cổ động tất cả hãy hoạt động để phá cho bằng được cái lâu đài của thằng Mèo độc ác ấy đi.

Chuột Nhắt reo lên như hét:

– Tôi xin theo ông. Tôi sẽ đi nói cho tất cả xung quanh tôi ai cũng biết những điều to lớn ông đã bảo tôi.

– Bạn ơi! Thế là bạn đã giác ngộ rồi đó!

Từ đấy, gã Chuột Nhắt đã có một lý tưởng để theo. Gã Chuột Nhắt đã có một nghĩa vụ để làm. Từ đấy chúng ta thường thấy gã nhanh nhẹn trong mọi công việc của gã, dù gã vẫn mang cái chân bệnh tật. Và gã vẫn chưa có vợ. Mà gã cũng chẳng nghĩ đến những điều ấy nữa. Lập thân trước đã chứ!

Về sau, cô tiểu thư Chuột Chù kia cũng héo hắt đi rồi chết già, chẳng ai buồn lấy, chẳng ai rước đi cho. Là vì cô đỏng đảnh, khinh người, làm bộ quá. Làm bộ mãi thì đời làm bộ trả. Ở đời, kiêu kì bắc bậc, chỉ tổ làm cho ai nấy sinh ghét.
Chi tiết